Điều 7. Việc khoán cụ thể đối với 3 loại rừng được áp dụng như sau:
1. Đối với rừng đặc dụng:
a) Ở các khu vực cần phải bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình sống xen kẽ mà chưa hoặc không có khả năng di chuyển đi nơi khác. Nguồn kinh phí khoán do Ngân sách Nhà nước cấp cho Chủ rừng hàng năm. Hộ gia đình nhận khoán có trách nhiệm bảo tồn nguyên vẹn diện tích rừng nhận khoán.
b) Ở khu vực cần phục hồi sinh thái, ở vùng đệm của các vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, Chủ rừng khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng mới cho hộ nhận khoán theo quy hoạch hoặc luận chứng kinh tế - kỹ thuật được duyệt và theo kế hoạch cấp vốn hàng năm của Nhà nước.
Hộ nhận khoán được trồng xen cây công nghiệp, cây đặc sản theo hướng dẫn của Chủ rừng, được hưởng toàn bộ sản phẩm cây trồng kết hợp; việc trồng xen các cây trồng khác trong rừng đặc dụng không được làm hại đến cây trồng chính và độ phì nhiêu của đất.
2. Đối với rừng phòng hộ:
a) Ở vùng phòng hộ đầu nguồn rất xung yếu và xung yếu, việc thực hiện khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng phải tuân theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và do Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí hàng năm.
b) Ở vùng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, việc thực hiện khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng mới được áp dụng như đối với khu vực phục hồi sinh thái của rừng đặc dụng nói ở tiết b, điểm 1, Điều 7 trên đây.
c) Đối với rừng phòng hộ ven biển (ngăn cát di động, bảo vệ đê ven biển và chống lở ven biển), Chủ rừng được nhận vốn đầu tư hàng năm của Nhà nước để khoán và bảo vệ rừng, trồng rừng, cho hộ nhận khoán.
3. Đối với rừng sản xuất:
a) Đối với rừng tự nhiên và rừng trồng các loài cây có chu kỳ sinh trưởng trên 20 năm.
- Trong trường hợp có khai thác lâm sản, Chủ rừng phải tự đầu tư vốn khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng.
- Trong trường hợp không khai thác lâm sản, hoặc lượng khai thác ít không đủ vốn để khoán sẽ được Nhà nước đầu tư theo luận chứng kinh tế - kỹ thuật hoặc dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; khi khai thác, Chủ rừng phải hoàn trả vốn cho Nhà nước.
b) Đối với rừng trồng các loài cây có chu kỳ sinh trưởng dưới 20 năm, Chủ rừng vay vốn với lãi xuất ưu đãi theo quyết định số 264-CT ngày 22-7-1992 để khoán bảo vệ rừng và trồng rừng trong chu kỳ đầu. Khi khai thác sản phẩm chu kỳ đầu, Chủ rừng phải hoàn trả vốn và lãi cho Nhà nước.
Khi khai thác rừng sản xuất, Chủ rừng phải nộp thuế và các khoản nộp Ngân sách Nhà nước theo luật định.