Điều 2. - Giao cho các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh 5 loại chỉ tiêu (thay cho các chỉ tiêu quy định trước đây):
- Giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện, trong đó ghi rõ phần cho xuất khẩu (hoặc các chi tiêu tương ứng như giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành bàn giao; khối lượng vận tải hàng hoá, hành khách; tổng mức lưu chuyển hàng hoá thu mua, bán buôn, bán lẻ và cung ứng vật tư, thiết bị...). - Sản phẩm giao nộp theo chủng loại, chất lượng do Nhà nước quy định và theo hợp đồng đã ký kết, trong đó ghi rõ phần cho xuất khẩu (hoặc các chỉ tiêu tương ứng như danh mục công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành bàn giao; khối lượng vận tải một số mặt hàng chủ yếu đến địa điểm giao nhận theo hợp đồng cho các chủ hàng; số lượng hàng hoá thu mua, bán buôn bán lẻ; số lượng vật tư thiết bị trọng yếu cung ứng cho các đơn vị sử dụng theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh...).
- Mức giảm giá thành. Cụ thể là mức giảm giá thành so với năm trước đối với những sản phẩm so sánh được; mức giảm giá thành so với kế hoạch đối với những sản phẩm mới (hoặc các chỉ tiêu tương ứng như mức giảm giá thành của 1000 đồng giá trị sản lượng xây lắp kết toán bàn giao; mức giảm giá thành của 1000 tấn/km (hoặc 1000 hành khách/km) theo từng loại phương tiện; mức giảm phí lưu thông của 1000 đồng doanh số); tổng mức giảm giá thành.
- Lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách, trong đó có phần tích luỹ bằng ngoại tệ nếu xí nghiệp có sản xuất sản phẩm xuất khẩu hoặc tham gia xuất khẩu.
- Những vật tư chủ yếu do Nhà nước cung ứng (do các tổ chức Trung ương hoặc do địa phương cung ứng) theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh.