Điều 3. Về chỉ tiêu pháp lệnh:
1. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trực tiếp giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban Nhà nước và các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương theo danh sách kèm theo Quyết định này (phụ lục 7).
2. Căn cứ vào chỉ tiêu pháp lệnh của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giao, Bộ trưởng, Tổng cục trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố giao các chỉ tiêu pháp lệnh cho các đơn vị trực thuộc.
Việc giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện theo Quyết định số 217-HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng. Không giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh.
3. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước giao một số chỉ tiêu cụ thể hoá chỉ tiêu pháp lệnh của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và một số chỉ tiêu có liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương.
Đối với các Bộ, Tổng cục và cơ quan Trung ương khác không nằm trong danh sách quy định ở điểm 1, Điều 3, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước giao.
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền Bộ trưởng Bộ Tài chính giao một số chỉ tiêu cụ thể hoá chỉ tiêu pháp lệnh của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về kế hoạch thu chi ngân sách. Bộ Tài chính có trách nhiệm làm việc cụ thể với các địa phương xác định rõ các nguồn thu để thu đúng chính sách, xác định rõ các khoản chi hợp lý cho từng tỉnh, thành phố; trên cơ sở đó có điều tiết cho trung ương hoặc trung ương có trợ cấp lại cho địa phương.
4. Cấp nào giao chỉ tiêu pháp lệnh thì cấp đó mới có quyền điều chỉnh chỉ tiêu. Các ngành, các cấp không tự ý thay đổi chỉ tiêu pháp lệnh. Việc tạm thời vay mượn ứng trước vật tư, tiền vốn trong điều hành thực hiện kế hoạch thì do các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố chủ động bàn bạc và giải quyết.