vanban.org

Điều 2. Được phép kinh doanh thương mại và dịch vụ nói ở điều 1 Quyết định này là những tổ chức kinh tế và công dân Việt Nam đã đăng ký kinh doanh và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh trong phạm vi địa phương, từng vùng hoặc trong cả nước, tuỳ theo mặt hàng. — Quyết định 193/HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/01/1989 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 23/12/1988 Hiệu lực 01/01/1989 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 193/HĐBT › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Được phép kinh doanh thương mại và dịch vụ nói ở điều 1 Quyết định này là những tổ chức kinh tế và công dân Việt Nam đã đăng ký kinh doanh và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh trong phạm vi địa phương, từng vùng hoặc trong cả nước, tuỳ theo mặt hàng.

Những tổ chức và cá nhân người nước ngoài kinh doanh thương mại và dịch vụ trên đất Việt Nam thì theo quy định riêng.

Bộ trưởng Bộ Nội thương, sau khi lấy ý kiến các ngành có liên quan, quy định lại chế độ đăng ký và xin giấy phép kinh doanh bảo đảm cho các tổ chức kinh tế và các công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên có năng lực pháp lý, có nguyện vọng và điều kiện kinh doanh đều được đăng ký và được cấp giấy phép kinh doanh những mặt hàng và ở những nơi phù hợp với nhu cầu quốc kế dân sinh. Lưu ý những trường hợp dưới đây:

1- Nông dân, thợ thủ công và người làm kinh tế gia đình trực tiếp bán sản phẩm do mình sản xuất, không có cửa hàng, cửa hiệu, và người làm dịch vụ không chuyên nghiệp, thì được miễn đăng ký và được phép bán sản phẩn của mình và hoạt động dịch vụ; nhưng phải chấp hành đầy đủ pháp luật Nhà nước về kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ.

2- Tổ chức kinh tế và người đang bị Toà án tước quyền kinh doanh, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội bội tín, lừa đảo và trộm cắp, người đang bị giam giữ hoặc đang bị bệnh tâm thần thì không được đăng ký và không được cấp giấy phép kinh doanh.

3- Người đang mắc bệnh truyền nhiễm thì không được kinh doanh các ngành nghề trực tiếp ảnh hưởng đến vệ sinh công cộng.

4- Tổ chức và công dân không có kỹ thuật, nghiệp vụ thì không được kinh doanh những mặt hàng hoặc dịch vụ đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định theo quy định cụ thể của các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Nhà nước.