Điều 9. Đo đạc và bản đồ địa chính, trích đo địa chính khu đất, trích lục bản đồ địa chính khu đất phục vụ cho mục đích chuyên dụng của các ngành trên địa bàn tỉnh phải được điều tra khảo sát, thu thập tài liệu, đánh giá tư liệu và đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp các quy định
1. Đối với các khu vực chưa có bản đồ địa chính chính quy hoặc bản đồ đo vẽ theo hệ toạ độ giả định trước năm 1995, quá trình sử dụng không cập nhật chỉnh lý thì được trích đo địa chính khu đất sử dụng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa theo hệ toạ độ VN-2000, kinh tuyến trục 108015', múi chiếu 30, số liệu trích đo phải lập bảng kê đối chiếu so sánh với số liệu thông tin trên hồ sơ địa chính hiện đang quản lý.
2. Đối với các khu vực có bản đồ địa chính chính quy thì công tác trích đo địa chính khu đất được thực hiện khi có biến động đất đai lớn hơn 40% . Số liệu trích đo phải lập bảng kê đối chiếu so sánh với số liệu thông tin trên hồ sơ địa chính đang quản lý.
3. Trường hợp các thửa đất có biến động từ 40% trở xuống thì trích lục bản đồ địa chính và có phương án chỉnh lý biến động.
4. Đối với sản phẩm đo đạc và bản đồ chuyên ngành do các Sở, Ban ngành khác làm chủ đầu tư như: Quy hoạch xây dựng, các công trình giao thông, công trình thủy lợi, hành lang an toàn lưới điện... có nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước thì được Sở, Ban ngành thực hiện kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu chất lượng, khối lượng theo quy định quản lý chất lượng đo đạc của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ chuyên ngành ban hành. Trường hợp chủ đầu tư không đủ năng lực thực hiện thì được phép thuê tổ chức tư vấn được cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ có danh mục kiểm định chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ, thực hiện công việc kiểm tra, thẩm định. Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm công trình, chịu trách nhiệm về chất lượng, khối lượng công trình. Sau khi hoàn thiện sản phẩm bàn giao Sở Tài nguyên và Môi trường 01 bộ để theo dõi quản lý.