Điều 7. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp quy định tại Điều 9 của Quy định này) mà diện tích thu hồi không nhỏ hơn 150 m2 đất chuyên trồng lúa nước hoặc 210 m2 đất trồng lúa nước còn lại hoặc 300 m2 đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất vườn, ao thì được hỗ trợ ổn định đời sống, cụ thể như sau:
a) Thu hồi từ 30% - 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dựng quy định tại Điều này được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 06 (sáu) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở.
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng quy định tại Điều này thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 (mười hai) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 36 (ba mươi sáu) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở.
c) Mức hỗ trợ bằng tiền cho một nhân khẩu có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương tại thời điểm thu hồi đất được Uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn xác nhận tương đương 30 (ba mươi) kg gạo tẻ (loại trung bình)/01 tháng, giá hỗ trợ được tính theo thông báo giá của Sở Tài chính, tỉnh Tuyên Quang tại thời điểm thu hồi đất.
2. Tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh thì được hỗ trợ bằng tiền. Căn cứ vào thời gian ngừng sản xuất, kinh doanh để xác định mức hỗ trợ. Mức hỗ trợ tính theo thu nhập sau thuế của 01 (một) năm; phương pháp xác định thu nhập sau thuế của một năm được tính theo mức thu nhập bình quân của 03 (ba) năm liền kề trước thời điểm thu hồi đất trường hợp thời gian kinh doanh chưa đủ 03 (ba) năm thì tính theo mức thu nhập bình quân của thời gian đã kinh doanh) và phải được cơ quan Thuế sở tại xác nhận, mức hỗ trợ cụ thể như sau:
a) Thời gian ngừng sản xuất, kinh doanh dưới 03 (ba) tháng mức hỗ trợ là 10%.
b) Thời gian ngừng sản xuất, kinh doanh từ 03 (ba) tháng đến dưới 06 (sáu) tháng mức hỗ trợ là 20%.
c) Thời gian ngừng sản xuất, kinh doanh trên 06 (sáu) tháng mức hỗ trợ là 30%.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các Công ty nông, lâm nghiệp (các nông, lâm trường quốc doanh trước đây) khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của Công ty nông, lâm nghiệp đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ bằng 80% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức 01 (một) ha đối với đất trồng cây hàng năm và đất nuôi trồng thủy sản; 05 (năm) ha đối với đất trồng cây lâu năm; 10 (mười) ha đối với đất trồng rừng sản xuất.
4. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất trong thời gian là 01 (một) năm, bao gồm: Hỗ trợ về giống cây trồng cho sản xuất nông nghiệp, giống cho nuôi trồng thủy sản; các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp.
Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo định mức kinh tế - kỹ thuật do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Công Thương thông báo theo thời điểm.