vanban.org

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt với những nội dung chủ yếu sau: — Quyết định 1856/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/06/2014
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 27/12/2007 Hiệu lực 19/01/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1856/QĐ-TTg › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt với những nội dung chủ yếu sau:

I. MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

1. Mục tiêu

a) Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của hành lang và quản lý hành lang an toàn đường bộ, đường sắt; lập lại trật tự, kỷ cương pháp luật trong việc giữ gìn hành lang an toàn đường bộ, đường sắt;

b) Tạo lập lại, xác định và duy trì hệ thống hành lang an toàn đường bộ, hệ thống hành lang an toàn đường sắt; hoàn thành việc xây dựng hệ thống đường gom, đường đấu nối vào quốc lộ, đường ngang, các công trình phụ trợ bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, đường sắt nhằm đảm bảo an toàn giao thông, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt.

2. Giải pháp thực hiện

a) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trật tự an toàn giao thông để mọi người tự giác chấp hành; yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, các cơ quan thông tin, báo chí phải thực hiện thường xuyên, kiên trì và liên tục;

b) Rà soát, phân loại và thống kê các công trình vi phạm nằm trong hành lang an toàn đường bộ, các đường đấu nối trái phép vào quốc lộ; rà soát, phân loại các điểm giao cắt đường bộ với đường sắt để đầu tư, cải tạo, nâng cấp, xây dựng đường ngang có phòng vệ phù hợp với quy định hiện hành; xây dựng rào chắn ngăn cách quốc lộ với đường sắt ở những đoạn quốc lộ chạy sát với đường sắt;

c) Thực hiện cưỡng chế giải toả các công trình đã được bồi thường, công trình tái lấn chiếm mà không tự tháo dỡ và các công trình xây dựng trái phép trong hành lang an toàn đường bộ, xoá bỏ đường đấu nối trái phép vào đường bộ; hoàn thiện mốc chỉ giới hành lang an toàn đường bộ, quản lý bảo vệ phần hành lang an toàn đường bộ đã giải toả, bảo vệ mốc lộ giới; tổ chức giải toả dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất hành lang an toàn đường sắt trong phạm vi đã được đền bù; ngăn chặn việc mở đường ngang trái phép, từng bước xoá bỏ các đường ngang trái phép có nguy cơ gây ra tai nạn giao thông;

d) Thống nhất quy hoạch hệ thống đường gom các khu kinh tế, khu thương mại, dân cư, các vị trí đấu nối đường gom vào hệ thống quốc lộ phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố; thực hiện quy hoạch hệ thống hàng rào đường gom các đường dân sinh, ngăn chặn việc mở đường ngang trái phép vượt qua đường sắt;

đ) Rà soát các văn bản của pháp luật về bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, đường sắt; đề xuất các nội dung cần điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo phù hợp với yêu cầu về quản lý, lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt.

II. TIẾN ĐỘ, NỘI DUNG THỰC HIỆN

Để đảm bảo triển khai thực hiện tốt mục tiêu và yêu cầu của kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt, lộ trình thực hiện giải toả và lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt được chia làm ba giai đoạn, cụ thể:

1. Đối với đường bộ

a) Giai đoạn I: từ nay đến hết quý II năm 2008:

- Các đơn vị quản lý đường bộ thực hiện việc rà soát, thống kê đầy đủ, chính xác các công trình sai phạm và công trình cần giải toả trong hành lang an toàn đường bộ;

- Tổng hợp kinh phí hỗ trợ giải toả hành lang an toàn đường bộ đã được đền bù từ 5 m - 7 m trên tất cả các tuyến quốc lộ;

- Thực hiện giải toả các vi phạm hành lang an toàn đường bộ trên quốc lộ 1 trong phạm vi đã đền bù giải toả 5 m - 7 m và các công trình lều lán, quán bán hàng, biển hiệu, biển quảng cáo ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Thực hiện thí điểm 4 đoạn tuyến trên quốc lộ 1:

Đoạn 1: Hà Nội - Ninh Bình;

Đoạn 2: Vinh - Huế;

Đoạn 3: Đà Nẵng - Nha Trang;

Đoạn 4: Ninh Thuận - thành phố Hồ Chí Minh.

+ Thời gian đến ngày 31 tháng 3 năm 2008: các khu quản lý đường bộ phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra, xác minh phạm vi hành lang an toàn đường bộ đã được đền bù xử lý; thống kê các công trình, lều quán xây dựng trái phép;

+ Thời gian đến ngày 30 tháng 4 năm 2008: tổ chức tuyên truyền, vận động các đơn vị, cá nhân tự nguyện tháo dỡ các công trình, lều quán xây dựng trái phép, vi phạm trên đất hành lang an toàn đường bộ đã được đền bù, xử lý (không đền bù, hỗ trợ kinh phí cho việc tự nguyện tháo dỡ này);

+ Thời gian từ ngày 01 tháng 5 năm 2008 đến ngày 30 tháng 6 năm 2008: thực hiện cưỡng chế, giải toả dứt điểm trong phạm vi từ 5 m - 7 m đã được đền bù giải toả thuộc các đoạn tuyến trên quốc lộ 1 nêu trên.

b) Giai đoạn II: từ quý III năm 2008 đến năm 2010:

- Tháng 7 năm 2008: tổng kết rút kinh nghiệm việc giải tỏa thí điểm 04 đoạn tuyến trên quốc lộ 1 của giai đoạn I và triển khai toàn tuyến quốc lộ 1 cho giai đoạn tiếp theo;

- Đến ngày 31 tháng 12 năm 2008: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch tổng thể các vị trí đấu nối vào quốc lộ, hệ thống đường gom đến năm 2010, thoả thuận với Bộ Giao thông vận tải;

- Đến ngày 31 tháng 3 năm 2009:

+ Thực hiện giải toả các vi phạm hành lang an toàn đường bộ trong phạm vi 5 m - 7 m đã được đền bù xử lý trên tất cả các tuyến quốc lộ và hoàn thành cơ bản việc xoá bỏ các đường đấu nối trái phép vào quốc lộ;

+ Các đơn vị quản lý đường bộ phối hợp với chính quyền địa phương thống kê, phân loại các công trình nằm trong hành lang an toàn đường bộ theo thời gian vi phạm;

+ Ủy ban nhân dân địa phương lập dự toán kinh phí phải đền bù, giải tỏa hành lang an toàn đường bộ và các công trình làm mất an toàn giao thông, báo cáo Bộ Giao thông vận tải.

c) Giai đoạn III: từ năm 2010 đến năm 2020:

- Đền bù, giải toả xong hành lang an toàn đường bộ, các công trình ảnh hưởng đến an toàn đường bộ trên toàn quốc theo Luật Giao thông đường bộ và Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

- Hoàn thành cắm đầy đủ mốc lộ giới trên tất cả các tuyến quốc lộ bàn giao cho địa phương quản lý.

2. Đối với đường sắt

a) Giai đoạn I: từ nay đến hết năm 2008:

- Tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân để mọi người hiểu rõ các quy định của pháp luật về đường sắt, đặc biệt là hành lang an toàn đường sắt;

- Tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành lang an toàn đường sắt và đề xuất các phương án giải quyết; vận động các tổ chức, cá nhân tự giác tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trong hành lang an toàn đường sắt;

- Cải tạo nâng cấp các đường ngang hiện có và bổ sung mới các đường ngang.

b) Giai đoạn II: từ năm 2009 đến hết năm 2010:

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có đường sắt đi qua lập quy hoạch tổng thể các vị trí giao cắt giữa đường bộ và đường sắt, hệ thống đường gom thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải trước tháng 12 năm 2009;

- Tổng công ty Đường sắt Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân các địa phương lập dự toán, tổng hợp kinh phí phải đền bù giải tỏa trong hành lang an toàn đường sắt và các công trình làm mất an toàn giao thông đường sắt;

- Các cơ quan chức năng phối hợp với chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố tổ chức cưỡng chế giải tỏa các công trình vi phạm hành lang an toàn đường sắt đã được đền bù, công trình tái lấn chiếm;

- Cắm đầy đủ mốc giới hạn hành lang an toàn đường sắt trên tất cả các tuyến bàn giao cho các địa phương quản lý;

- Xây dựng các tường rào hộ lan, hàng rào bảo vệ hành lang, lập đường gom rào cách ly an toàn giao thông đường sắt;

- Xây dựng các đường ngang, cầu vượt, hầm chui mới;

- Trong năm 2009, tập trung giải quyết các công việc nêu trên tại các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và tại các địa phương khác có điểm giao cắt đường bộ, đường sắt xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông;

- Trong năm 2010 thực hiện đối với các địa phương.

c) Giai đoạn III: từ năm 2011 đến năm 2020: xây dựng cầu vượt giao cắt lập thể tại những điểm giao cắt giữa đường sắt với quốc lộ:

- Từ năm 2011 đến năm 2015 tập trung cho tuyến đường sắt Bắc - Nam;

- Từ năm 2016 đến năm 2020 tập trung cho tất cả các tuyến đường sắt trên cả nước.

III. KINH PHÍ THỰC HIỆN

Kinh phí để thực hiện lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt do ngân sách nhà nước bố trí. Nguồn kinh phí này được bố trí để:

- Tuyên truyền phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông;

- Thống kê, rà soát, phân loại các vi phạm trong hành lang an toàn đường bộ, đường sắt, diện tích hành lang đã đền bù giải tỏa, diện tích hành lang cần đền bù giải tỏa;

- Thống kê, phân loại các điểm đấu nối với quốc lộ;

- Cưỡng chế, giải tỏa vi phạm hành lang an toàn đường bộ, đường sắt;

- Đền bù, hỗ trợ việc giải tỏa hành lang;

- Xây dựng các công trình phụ trợ đảm bảo an toàn trong hành lang an toàn đường bộ, đường sắt.

1. Đối với đường bộ

a) Kinh phí dự kiến cho thực hiện giai đoạn I: từ nay đến hết quý II năm 2008 là 14 tỷ đồng để tập trung giải toả các vi phạm trong phần đất đã được đền bù, thực hiện giải toả thí điểm 4 đoạn tuyến trên quốc lộ 1 nêu tại điểm a khoản 1 mục II Điều 1 Quyết định này.

b) Đối với giai đoạn II và giai đoạn III: từ quý III năm 2008 đến năm 2020:

 Bộ Giao thông vận tải tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kinh phí dự kiến để thực hiện giải toả, lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ trên tất cả các tuyến quốc lộ sau khi các tỉnh, thành phố hoàn thành công tác thống kê, dự trù kinh phí giải toả, lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ. Riêng kinh phí dự kiến cho thực hiện giải tỏa lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ của toàn tuyến quốc lộ 1 là 14.365 tỷ đồng.

2. Đối với đường sắt

Tổng kinh phí dự kiến khoảng: 4.173,998 tỷ đồng

a) Giai đoạn I: từ nay đến hết năm 2008 (kinh phí 118,761 tỷ đồng) để:

- Thống kê rà soát các vị trí vi phạm hành lang an toàn đường sắt và tổ chức tuyên truyền vận động các tổ chức cá nhân tự giác tháo dỡ các công trình vi phạm hành lang an toàn đường sắt;

- Bổ sung biển báo, gờ giảm tốc, vạch dừng, tầm nhìn và các trang thiết bị cảnh báo còn thiếu hoặc không bảo đảm quy định tại các điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt;

- Cải tạo, nâng cấp đường ngang và bổ sung xây dựng các đường ngang.

b) Giai đoạn II: từ năm 2009 đến hết năm 2010 (kinh phí 1.798,237 tỷ đồng) để:

- Đền bù, giải tỏa hành lang an toàn đường sắt và cưỡng chế giải tỏa các công trình vi phạm hành lang an toàn đường sắt đã được đền bù (kinh phí thực hiện 644,154 tỷ đồng);

- Lập đường gom rào cách ly (kinh phí 313,221 tỷ đồng);

- Xây dựng rào bảo vệ hành lang an toàn đường sắt (kinh phí 387,454 tỷ đồng);

- Xây dựng rào hộ lan ngăn cách đường bộ - đường sắt (kinh phí 283,944 tỷ đồng);

- Xây dựng đường ngang mới, làm cầu vượt, hầm chui (kinh phí 160,464 tỷ đồng).

c) Giai đoạn III: từ năm 2011 đến hết năm 2020: xây dựng cầu vượt giao cắt lập thể tại những điểm giao cắt giữa đường sắt với quốc lộ (kinh phí 2.266 tỷ đồng).