vanban.org

Điều 4. Quy mô, thời hạn tồn tại của công trình xây dựng, nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn — Quyết định 184/2025/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 25/10/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hải Phòng Ban hành 09/10/2025 Hiệu lực 25/10/2025 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 2 năm
Quyết định số 184/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 184/2025/QĐ-UBND
25/10/2025Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 57/2023/QĐ-UBND Bãi bỏ một số điều, khoản của Quyết định số 38/2022/QĐ-UBND ngày 19/7/2022 của UBND thành phố về việc ban hành quy định chi tiết một số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 57/2023/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 184/2025/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Quy mô, thời hạn tồn tại của công trình xây dựng, nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn

1. Quy mô công trình được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn:

a) Quy mô công trình được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn: cấp IV hoặc cấp công trình tối thiểu theo quy định pháp luật về phân cấp công trình xây dựng đối với từng loại công trình, trừ công trình quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

b) Quy mô công trình nhà ở riêng lẻ: Tầng cao không quá 03 tầng (không xây dựng tầng hầm hoặc bán hầm), trên có thể có mái tum buồng thang (chỉ xây dựng trên diện tích buồng thang và cao dưới 2,4m), tổng chiều cao công trình không quá 15m, diện tích sàn không quá 500m².

2. Thời hạn tồn tại của công trình: Thời hạn tồn tại của công trình, nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng có thời hạn tối đa không quá 05 năm và phù hợp với thời hạn quy hoạch. Công trình xây dựng, nhà ở riêng lẻ khi hết thời hạn tồn tại của công trình ghi trong giấy phép xây dựng có thời hạn thì thời gian tồn tại của công trình thực hiện theo quy định tại Điều 94 Luật Xây dựng năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020 và Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2024).