vanban.org

Điều 11. Trình tự hòa giải tranh chấp lao động tập thể về quyền — Quyết định 18/2016/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 03/07/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 03/07/2023 Thay thế: 18/2023/QĐ-UBND · 13/06/2023
Bình Dương Ban hành 08/07/2016 Hiệu lực 18/07/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 10 năm
Quyết định số 18/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý và hoạt động của Hòa giải viên lao động trên địa bàn tỉnh Bình Dương · 18/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 18/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy chế tổ chức hoạt động của Hòa giải viên lao động · 18/2016/QĐ-UBND
03/07/202318/2023/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 18/07/2016Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 18/2016/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Trình tự hòa giải tranh chấp lao động tập thể về quyền

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải, Hòa giải viên lao động phải kết thúc hòa giải. Việc tiến hành hòa giải được thực hiện các bước sau:

1. Xác định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp (còn thời hiệu hay đã hết thời hiệu). Thời hiệu yêu cầu Hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động tập thể về quyền  là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi của mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.Trường hợp còn thời hiệu thì thực hiện các bước tiếp theo.

2. Tìm hiểu sự việc các bên tranh chấp: Xác định rõ tính chất và mức độ phức tạp của vụ việc, tìm hiểu và làm rõ nội dung tranh chấp, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.

3. Thu thập các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết. Hòa giải viên lao động yêu cầu các bên có liên quan cung cấp các tài liệu, văn bản, chứng cứ có liên quan đến tranh chấp; tham khảo thêm ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về lao động, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và tổ chức đại diện người sử dụng lao động.

4. Tổ chức phiên họp hòa giải:

a) Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.

b) Xác định thành phần tham gia phiên họp hòa giải:

Thành phần tham dự phiên họp hòa giải tranh chấp lao động tập thể gồm:

- Bên đại diện cho người lao động gồm: Ban Chấp hành công đoàn hoặc Ban Chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (nơi không có Công đoàn cơ sở) và những người được Ban Chấp hành công đoàn cử tham dự phiên họp.

- Bên đại diện người sử dụng lao động.

- Hòa giải viên lao động hoặc đại diện cơ quan quản lý nhà nước về lao động, đại diện công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và tổ chức đại diện người sử dụng lao động mà người sử dụng ở đó là thành viên tham gia khi được một trong hai bên yêu cầu mời tham dự cuộc họp.

c) Tổ chức phiên họp:

- Hòa giải viên lao động chủ trì cuộc họp và cử người làm thư ký ghi biên bản cuộc họp.

- Tại cuộc họp, các bên phát biểu và nêu ý kiến, quan điểm của mình về vụ việc xảy ra.

- Những vấn đề liên quan đến pháp luật lao động, nếu hai bên hiểu chưa đúng thì Hòa giải viên lao động có thể giải thích thêm hoặc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về lao động giải thích để các bên hiểu thống nhất và cùng thực hiện cho đúng.

- Trường hợp một trong hai bên thực hiện chưa đúng các quy định của pháp luật về lao động thì Hòa giải viên lao động căn cứ vào quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động để yêu cầu bên vi phạm thực hiện cho đúng.

- Trường hợp một trong hai bên vi phạm các quy định trong thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động và các quy chế nội bộ thì yêu cầu bên vi phạm chấp hành theo nội dung mà hai bên đã thỏa thuận. Trường hợp gặp những khó khăn bất khả kháng mà không thể thực hiện được thì Hòa giải viên lao động hướng dẫn hai bên tiến hành thương lượng lại cho phù hợp với thực tế của doanh nghiệp.

- Trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì Hòa giải viên lao động gợi mở và đưa ra các phương án giải quyết tranh chấp của mình.

- Hai bên thống nhất chọn phương án giải quyết hoặc không thống nhất với các phương án đưa ra;

- Trường hợp hai bên thỏa thuận được hoặc thống nhất phương án giải quyết thì lập biên bản hòa giải thành; trường hợp hai bên không thống nhất phương án giải quyết thì lập biên bản hòa giải không thành.

5. Thông qua biên bản hòa giải và các bên ký tên vào biên bản hòa giải.