vanban.org

Điều 6. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở — Quyết định 18/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 11/04/2009 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Vĩnh Phúc Ban hành 01/04/2009 Hiệu lực 11/04/2009 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 18/2009/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất · 18/2009/QĐ-UBND
11/04/2009Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND Ban hành quy định thực hiện bồi thường, đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất · 15/2008/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 18/2009/QĐ-UBND › Chương II › Mục 1 › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở

1. Người bị thu hồi đất ở không thuộc đối tượng được bồi thường theo quy định của bản Quy định này, nếu còn nơi ở khác thì không giao đất mới ; trường hợp không còn nơi ở nào khác thì được xem xét giao đất mới và phải nộp tiền sử dụng đất theo giá quy định của UBND tỉnh.

2. Đất vườn, ao liền kề với đất ở được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư theo quy định tại điểm VII, Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLB - BTC- BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường.

a) Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18/12/1980 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 5, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 thì diện tích đất vườn, ao đó được xác định là đất ở ;

b) Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/07/2004 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 5, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó ;

c) Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/07/2004 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1 ,2 ,5, Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở, đất vườn, ao được xác định như sau:

- Diện tích đất ở được xác định theo hạn mức giao đất ở do UBND tỉnh quy định; phần diện tích đất còn lại được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.

- Đối với những vùng nông thôn có tập quán nhiều thế hệ cùng chung sống trong một hộ, thì hạn mức đất ở được xác định không quá 3 lần hạn mức giao đất ở nông thôn theo quy định của UBND tỉnh, nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.