Điều 15. - Đối với sản phẩm xuất khẩu, sản xuất vượt chỉ tiêu pháp lệnh, hoặc ngoài chỉ tiêu pháp lệnh hoặc không được Nhà nước cung cấp nguyên liệu tương ứng với chỉ tiêu pháp lệnh thì các Bộ, tỉnh và đơn vị sản xuất được hưởng từ 70% đến 90% số ngoại tệ thu được (theo giá xuất khẩu FOB) khi trực tiếp xuất khẩu hoặc uỷ thác xuất khẩu hàng hoá đó; phần ngoại tệ còn lại (từ 10% đến 30%) kết hối cho quỹ ngoại tệ trung ương. Bộ ngoại thương quy định cụ thể tỷ lệ cho từng loại hàng.
Các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh Tây Nguyên, các huyện miền núi của các địa phương khác được miễn kết hối phần ngoại tệ cho Trung ương trong 5 năm kể từ khi bắt đầu có sản phẩm xuất khẩu. Các tỉnh, huyện có nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống cũng có thể được Hội đồng Bộ trưởng xét giảm hoặc miễn kết hối phần ngoại tệ cho Trung ương trong một thời gian nhất định tuỳ tình hình cụ thể của từng địa phương.
Nếu Bộ, tỉnh không bảo đảm nghĩa vụ giao nộp sản phẩm xuất khẩu theo chỉ tiêu pháp lệnh hoặc không kết hối đủ ngoại tệ thì Ngân hàng Ngoại thương được phép trích tài khoản ngoại tệ tự có của Bộ, tỉnh nộp vào quỹ ngoại tệ của Trung ương; nếu không đủ thì năm sau phải bù cho đủ. Sau hai năm không bù đủ thì không được phép tiếp tục trực tiếp xuất nhập khẩu.