Điều 9. Quản lý tài nguyên rừng trong vùng hồ Thác Bà
1. Đối với rừng phòng hộ
a) Đối với khu rừng phùng hộ đã có rừng thì chủ rừng, bên nhận khoán ổn định là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được trồng xen cây nông nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ, chăn nuôi dưới tán rừng phòng hộ nhưng không được làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng, không làm ảnh hưởng đến tái sinh rừng và khả năng phòng hộ của rừng; không làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của rừng; không khai thác trái phép tài nguyên sinh vật và các tài nguyên thiên nhiên khác; không gây ô nhiễm môi trường; không mang hóa chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy trái quy định của pháp luật vào rừng.
Thực hiện các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng, các quy định về phòng, trừ sinh vật gây hại rừng phòng hộ theo quy định;
b) Đối với đất chưa có rừng thì bên nhận khoán ổn định là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được sử dụng đất chưa có rừng đế kết hợp sản xuất nông nghiệp nhưng phải trồng rừng trên diện tích đất được giao, khoán bảo đảm tỷ lệ diện tích có rừng từ 80% trở lên; được trồng xen cây nông nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả với cây rừng trên diện tích đất được giao, khoán; không được chăn thả gia súc, gia cầm, vật nuôi trên diện tích mới trồng rừng, đang trong thời kỳ chăm sóc; được sử dụng diện tích đất xen giữa các băng trồng cây rừng để sản xuất nông nghiệp kết hợp với tỷ lệ không quá 20% diện tích đất của lô rừng được giao, khoán.
2. Đối với rừng sản xuất
a) Chủ rừng thực hiện phát triển rừng sản xuất theo phương án quản lý rừng bền vững;
b) Chủ rừng tự đầu tư hoặc liên doanh, liên kết để thực hiện các dự án phát triển rừng và tổ chức sản xuất trên diện tích rừng, đất trồng rừng sản xuất được Nhà nước giao hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật;
c) Chủ rừng phải thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017.