Điều 5. Nhiệm vụ của lực lượng dân phòng
1. Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tự giác chấp hành chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, các quy ước, quy định về bảo vệ an ninh, trật tự; tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng khu dân cư, xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh, trật tự và các phong trào cách mạng khác của địa phương.
2. Khi phát hiện các vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, các vụ vi phạm hành chính, vi phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ấp (khu phố) thì nhanh chóng thông tin cơ quan chức năng và phối hợp, hỗ trợ các ngành, đoàn thể giải quyết, xử lý.
3. Đôn đốc, nhắc nhở nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý cư trú; sử dụng, quản lý chứng minh nhân dân, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; giữ gìn trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông, an toàn phòng cháy, chữa cháy…
4. Khi có vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự xảy ra trên địa bàn, phải kịp thời có mặt và báo cáo ngay cho công an cấp xã; tham gia bảo vệ hiện trường, cấp cứu người bị nạn, giữ gìn an ninh, trật tự, tham gia chữa cháy, cứu tài sản và thực hiện những công việc khác theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân và Trưởng Công an cùng cấp.
5. Tổ chức tuần tra giữ gìn an ninh, trật tự theo kế hoạch được trưởng công an cùng cấp phê duyệt; phối hợp thực hiện công tác phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự theo quy định.
6. Phối hợp với bảo vệ dân phố; ban, tổ an ninh trật tự nông thôn; lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn bảo vệ an ninh, trật tự theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân và trưởng công an cùng cấp.