Điều 8. Trình tự, thủ tục ban hành quyết định thu hồi đất trong trường hợp vi phạm pháp luật sử dụng đất đai bị xử phạt vi phạm hành chính
Khi xử lý vi phạm hành chính mà vi phạm hành chính đó thuộc trường hợp phải thu hồi đất quy định tại Điều 3 của Quy định này thì thực hiện theo quy định sau đây:
1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị thu hồi đất đến cơ quan Tài nguyên môi trường cùng cấp với Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất.
Trong thời hạn hai mươi (20) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thu hồi đất của Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan tài nguyên môi trường có trách nhiệm thẩm tra; xác minh thực địa khi cần phải xác định lại tính chất, mức độ vi phạm, diện tích, vị trí đất thu hồi hoặc những trường hợp cần thiết khác, kết quả kiểm tra phải được thể hiện bằng Biên bản; trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất đối với trường hợp đủ căn cứ; Trường hợp không đủ căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai thì phải thông báo cho người đề nghị, người bị xử phạt, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất biết rõ lý do;
Trong thời hạn không quá hai mươi (20) ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ trình của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, ban hành quyết định thu hồi và gửi quyết định thu hồi đất cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành; chỉ đạo xử lý để xác định giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp hết thời hiệu xử phạt quy định tại Điều 4 của Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính và đề nghị Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất.