vanban.org

Điều 12. Quản lý và tổ chức lễ hội: — Quyết định 17/2012/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/02/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 28/02/2018 Thay thế: 03/2018/QĐ-UBND · 06/02/2018
Hà Nam Ban hành 24/08/2012 Hiệu lực 03/09/2012 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 14 năm
Quyết định số 185/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Ninh Bình · 185/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 03/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 03/2018/QĐ-UBND
Quyết định số 17/2012/QĐ-UBND Ban hành Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 17/2012/QĐ-UBND
28/02/201803/2018/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 03/09/2012Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 17/2012/QĐ-UBND › Chương II › Mục III › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Quản lý và tổ chức lễ hội:

1. Lễ hội dân gian:

- Uỷ ban nhân dân tỉnh định kỳ tổ chức 5 năm một lần đối với Lễ hội Tịch Điền (Đọi Sơn - Duy Tiên), Lễ hội đền Trần Thương (Nhân Đạo - Lý Nhân)...

- Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý và tổ chức định kỳ 5 năm một lần đối với các lễ hội diễn ra tại các di tích cấp quốc gia. Những năm còn lại do Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức theo hướng dẫn của Phòng Văn hóa và Thông tin.

- Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý và tổ chức định kỳ 3 năm một lần đối với các lễ hội diễn ra tại các di tích cấp tỉnh và các lễ hội khác theo hướng dẫn của Phòng Văn hóa và Thông tin.

2. Lễ hội tôn giáo: do tổ chức giáo hội hoặc chức sắc chủ trì phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL - UBTVQH/QH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 và Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.

Ban tổ chức lễ hội tôn giáo do Giáo hội quyết định trên cơ sở có sự thống nhất với chính quyền địa phương.

Nghi thức lễ hội tôn giáo phải có sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo và cơ quan quản lý văn hóa ở địa phương.

3. Lễ hội lịch sử cách mạng, kháng chiến, những ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước, của tỉnh, của ngành, của huyện, của địa phương được tổ chức nhằm tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng; lễ hội văn hoá, thể thao và du lịch...tổ chức theo chỉ đạo của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Tổ chức các Lễ đón nhận các danh hiệu cao quý của Nhà nước trao tặng và các ngày lễ kỷ niệm...chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải thực hiện đúng quy định tại Nghị định 154/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ về Nghi thức Nhà nước trong tổ chức lễ mít tinh, lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

4. Lễ hội du nhập từ nước ngoài.