vanban.org

Điều 14. Đánh giá kết quả của Hội đồng — Quyết định 17/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Kiên Giang Ban hành 30/05/2006 Hiệu lực 09/06/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 2 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 05/2019/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý và tổ chức thực hiện các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang · 05/2019/QĐ-UBND
Quyết định số 17/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định việc đánh giá, nghiệm thu đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh · 17/2006/QĐ-UBND
03/04/200815/2008/QĐ-UBNDChưa hợp nhất 09/06/2006Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 17/2006/QĐ-UBND › Chương III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Đánh giá kết quả của Hội đồng

1. Trên cơ sở xem xét, nghiên cứu toàn bộ hồ sơ đánh giá và các tài liệu, văn bản liên quan, báo cáo thẩm định của các chuyên gia (nếu có) và các phiếu nhận xét đánh giá kết quả đề tài, dự án của các ủy viên phản biện, Hội đồng trao đổi, thảo luận, nhận định chấm điểm theo mẫu quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ để xếp loại đề tài, dự án theo 4 nhóm tiêu chuẩn với thang điểm 40 điểm được quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Các tiêu chuẩn đánh giá:

a) Mức độ hoàn thành khối lượng cơ bản kết quả nghiên cứu của đề tài, dự án so với yêu cầu đặt ra của đề cương và hợp đồng.

- Mức độ hoàn thành khối lượng công việc cơ bản: Tính đầy đủ về số lượng, về chủng loại, về khối lượng các sản phẩm đã hoàn thành so với hợp đồng.

- Về phương pháp nghiên cứu, báo cáo khoa học, tài liệu công nghệ:

+ Về phương pháp nghiên cứu, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp tính toán và kỹ thuật đã sử dụng; tính xác thực của việc thực hiện các quy trình nghiên cứu, thí nghiệm, tính đại diện của các mẫu thí nghiệm, các số liệu điều tra khảo sát…

+ Về mức độ hoàn chỉnh của các báo cáo khoa học, báo cáo tóm tắt, bản vẽ thiết kế, sơ đồ, bản đồ (nếu có), tài liệu gốc, tài liệu công nghệ…

b) Giá trị khoa học các kết quả nghiên cứu đề tài, dự án:

- Về tính mới, tính sáng tạo của kết quả nghiên cứu đã tạo ra.

- Về tình hình công bố kết quả nghiên cứu của đề tài, dự án (bài báo, ấn phẩm) ở các tạp chí có uy tín trong, ngoài nước và mức độ trích dẫn.

- Về những thành tựu nổi bật khác liên quan trực tiếp đến kết quả nghiên cứu của đề tài, dự án, thể hiện bằng những đóng góp cụ thể:

+ Vị thế của các nhà khoa học (những cá nhân tham gia đề tài, dự án) trong giới khoa học, những công việc tư vấn được mời tham gia.

+ Có giá trị khoa học xuất sắc trong tỉnh và so sánh được với những kết quả nghiên cứu tương tự trong khu vực, trong nước.

c) Giá trị ứng dụng, mức độ hoàn thiện của công nghệ và triển vọng áp dụng kết quả khoa học và công nghệ:

- Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu của sản phẩm nghiên cứu tương đương hoặc cao hơn chỉ tiêu của các sản phẩm tương tự khác (có địa chỉ trích dẫn cụ thể); Quy mô áp dụng kết quả nghiên cứu đã chứng minh được hiệu quả kinh tế và triển vọng áp dụng.

- Tình hình được cấp bằng sáng chế hoặc giải pháp hữu ích.

- Về hiệu quả kinh tế - xã hội: Sản phẩm đã được đưa vào sản xuất quy mô công nghiệp hoặc đã chuyển giao công nghệ bằng các hợp đồng kinh tế quy mô khác nhau; các cơ sở dữ liệu, các cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch, mô hình… đã được sử dụng trong việc hoạch định các kế hoạch, quy hoạch, đề án phát triển kinh tế xã hội các ngành, các cấp có ý nghĩa kinh tế cao…

d) Đánh giá về tổ chức và quản lý, kết quả đào tạo và những đóng góp khác của đề tài, dự án:

- Về tổ chức và quản lý đề tài, dự án.

- Về kết quả đào tạo và những đóng góp khác của đề tài, dự án.

3. Hội đồng bỏ phiếu chấm điểm:

Phiếu hợp lệ là những phiếu cho điểm bằng hoặc thấp hơn điểm tối đa đã ghi trên phiếu tương ứng cho từng chỉ tiêu đánh giá. Mức đánh giá chung của đề tài, dự án được tính bằng điểm trung bình của các thành viên Hội đồng.

Ban kiểm phiếu báo cáo trước Hội đồng về kết quả kiểm phiếu. Hội đồng xếp loại đề tài, dự án vào một trong hai mức “đạt” hoặc “không đạt”.

a) Đề tài đánh giá ở mức “đạt” là những đề tài, dự án đạt tổng số điểm từ 20 điểm trở lên và không vi phạm một trong các điểm b, c, d, đ và e khoản 2 Điều 8 của Quy định này. Mức “đạt” được chia ra các mức A, B, C tương ứng với số điểm từ cao xuống thấp:

Mức A: từ 35-40 điểm

Mức B: từ 27 đến dưới 35 điểm.