vanban.org

Điều 6. Tổ chức bộ máy quản lý chợ: (Bao gồm ba hình thức: Ban quản lý chợ - Doanh nghiệp quản lý chợ - Tổ quản lý chợ). — Quyết định 167/2002/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/02/2002 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND tỉnh Hà Tây Ban hành 04/02/2002 Hiệu lực 15/02/2002 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 167/2002/QĐ-UB › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Tổ chức bộ máy quản lý chợ: (Bao gồm ba hình thức: Ban quản lý chợ - Doanh nghiệp quản lý chợ - Tổ quản lý chợ).

Ban quản lý chợ: Là hình thức chủ yếu trong tổ chức quản lý các hoạt động chợ.

6.1.1. Tất cả các loại chợ 1 và loại 2 đều phải lập ban quản lý chợ để tổ chức quản lý các hoạt động kinh doanh trong chợ.

6.1.2. Chợ thuộc cấp nào quản lý thì UBND cấp đó ra quyết định thành lập hoặc giải thể Ban quản lý chợ.

6.1.3. Ban quản lý chợ là một đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản giao dịch tại kho Bạc Nhà nước. Ban quản lý chợ chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn của Phòng Kinh tế và hạ tầng nông thôn (kinh tế và hạ tầng đô thị huyện, Thị xã).

6.1.4. Ban quản lý chợ gồm Trưởng ban, Phó trưởng ban, và một số cán bộ giúp việc. Biên chế của Ban quản lý chợ căn cứ vào qui mô, tính chất hoạt động của từng loại chợ và tình hình cụ thể của từng địa phương) do UBND cấp quản lý qui định.

Riêng nhân viên bảo vệ chợ, Ban quản lý chợ phải thoả thuận với lực lượng công an sở tại trước khi có hợp đồng lao động.

Trưởng ban quản lý chợ có các nhiệm vụ sau:

Tổ chức điều hành công việc của ban quản lý chợ

Quản lý đội ngũ cán bộ nhân viên của ban, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người lao động thuộc thẩm quyền quản lý, tạo điều kiện để cán bộ nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.

Xử lý các vi phạm nội qui của chợ. Những vi phạm khác chuyển cho cơ quan chức năng theo qui định của pháp luật.

6.1.5. Nhiệm vụ của ban quản lý chợ

6.1.5.1. Soạn thảo nội qui hoạt động của chợ, trình UBND huyện, thị xã phê duyệt và tổ chức thực hiện.

6.1.5.2. Sắp xếp nơi mua bán hàng hoá - dịch vụ theo yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh và văn minh thương nghiệp phù hợp với đặc điểm hàng hoá - dịch vụ của mỗi chợ.

6.1.5.3. Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật của chợ, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc sửa chữa và xây dựng mới, bảo đảm cho hoạt động của chợ an toàn, văn minh, hiệu quả.

6.1.5.4. Hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc những người buôn bán - dịch vụ tại chợ thực hiện đúng và đầy đủ các qui định của Nhà nước về kinh doanh thương mại và dịch vụ.

6.1.5.5. Chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc giữ trật tự, trị an, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường, xử lý các vi phạm về nội qui hoạt động chợ.

6.1.5.6. Nắm vững tình hình hàng hoá lưu thông, hoạt động dịch vụ tình hình biến động thị trường và giá cả trên địa bàn chợ, báo cáo đầy đủ kịp thời cho cơ quan quản lý trực tiếp và cơ quan chuyên môn ngành dọc

6.1.6. Quyền hạn của Ban quản lý chợ

6.1.6.1. Xem xét và quyết định việc chấp thuận hay không chấp thuận đơn xin đặt cửa hàng, quầy hàng, sạp hàng... Buôn bán tại chợ của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh tại chợ.

6.1.6.2. Được yêu cầu các tổ chức kinh tế, hộ tư nhân kinh doanh trong chợ xuất trình các giấy tờ có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Các trường hợp: Không đăng ký kinh doanh, không có giấy phép kinh doanh, vi phạm nội quy chợ sẽ không bố trí điểm kinh doanh hoặc thu hồi điểm kinh doanh hoặc thôi hợp đồng thuê địa điểm kinh doanh.

6.1.6.3. Tổ chức các hoạt động dịch vụ trong chợ.

Tổ chức việc cho thuê địa điểm và phương tiện kinh doanh phục vụ cho mua bán hàng hoá và dịch vụ.

Trông giữ, bảo quản tài sản và phương tiện của người mua, người bán tại chợ.

Tổ chức bảo vệ hàng hoá ngoài giờ, dịch vụ nghỉ trọ, y tế, bảo vệ môi trường... Tại chợ theo yêu cầu của người kinh doanh.

Tổ chức bán vé chợ cho các tổ chức, cá nhân không hoạt động kinh doanh cố định tại chợ.

6.2. Loại hình doanh nghiệp quản lý chợ có thể được áp dụng ở các thành phố, thị xã, các khu kinh tế tập trung khi có đủ các điều kiệm sau đây:

6.2.1. Có số hộ kinh doanh cố định thường xuyên trên 1.000 hộ và có địa điểm để mở rộng qui mô của chợ.

6.2.2. Có khả năng huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng, mở rộng hoặc cải tạo theo hướng văn minh hiện đại và đạt hiệu quả kinh tế xã hội.

6.2.3. Có đội ngũ cán bộ đủ năng lực quản lý.

Doanh nghiệp quản lý chợ (bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, HTX...) là tổ chức kinh tế được thành lập theo các qui định của pháp luật để quản lý một hoặc một số chợ, hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính và hoạt động kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.

Doanh nghiệp quản lý chợ thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý chợ trong qui định này trừ nhiệm vụ nói tại 6.1.5.4 được chuyển giao cho Phòng Kinh tế và hạ tầng nông thôn (Phòng Kinh tế và hạ tầng đô thị) hoặc các cơ quan chức năng khác của huyện, thị xã.

6.2.4. Loại hình này phải có dự án khả thi, được thẩm định chặt chẽ trình UBND tỉnh xem xét quyết định cụ thể mới được thực hiện.

6.3. Tổ chức bộ máy quản lý tại các chợ loại 3, UBND xã, phường, thị trấn căn cứ tình hình cụ thể để chọn một trong các hình thức sau:

6.3.1. Những chợ họp thường xuyên, có từ 50 đến 100 hộ kinh doanh cố định lập ban quản lý chợ trực thuộc UBND xã, phường, thị trấn.

6.3.2. Những chợ nhỏ dưới 50 hộ kinh doanh cố định, họp không thường xuyên, lập tổ quản lý chợ hoạt động bán chuyên do UBND xã, phường, thị trấn quyết định và phân công.

6.3.3. Đối với một số chợ nhỏ hoạt động trong phạm vi thôn, xóm, làng, bản có thể cho đấu thầu quản lý theo nguyên tắc: Tập thể, cá nhân tham gia đấu thầu phải tuyệt đối chấp hành các qui định về quản lý chợ; thực hiện đúng và đầy đủ các định mức kinh tế kỹ thuật về thu chi tài chính theo qui định của Nhà nước.

Phòng Kinh tế và hạ tầng nông thôn giúp UBND huyện hướng dẫn việc đấu thầu quản lý chợ.