vanban.org

Điều 5. Trình tự tổ chức xác định giá bán gỗ, nghiệm thu, tiêu thụ — Quyết định 1658/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/06/2019 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 28/06/2019 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 15/2019/QĐ-UBND · 18/06/2019
Phú Yên Ban hành 12/10/2011 Hiệu lực 22/10/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 15/2019/QĐ-UBND Bãi bỏ Quyết định số 1658/2011/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 của UBND tỉnh Phú Yên về việc ban hành Quy định một số chính sách ưu đãi nguyên liệu gỗ tròn là Keo các loại khi khai thác, tỉa thưa rừng trồng được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp chế biến tinh chế gỗ trên địa bàn tỉnh Phú Yên · 15/2019/QĐ-UBND
Quyết định số 1658/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định một số chính sách ưu đãi nguyên liệu gỗ tròn là Keo các loại khi khai thác, tỉa thưa rừng trồng được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp chế biến tinh chế gỗ trên địa bàn tỉnh Phú Yên · 1658/2011/QĐ-UBND
28/06/201915/2019/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 22/10/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1658/2011/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Trình tự tổ chức xác định giá bán gỗ, nghiệm thu, tiêu thụ

Ban Quản lý rừng, tổ chức, cá nhân chỉ bán gỗ tròn được phép khai thác, tỉa thưa rừng trồng được đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước cho các đơn vị tinh chế gỗ bằng hình thức chỉ định mua gỗ tròn tại bãi giao đối với các trường hợp không bắt buộc bán đấu giá hoặc bán đấu giá hạn chế đối với các trường hợp bắt buộc phải bán đấu giá.

Đối với các Ban Quản lý rừng có cơ sở sản xuất chế biến tinh chế gỗ thì được để lại khối lượng gỗ khai thác rừng trồng đủ sản xuất chế biến theo đề án được duyệt. Trong trường hợp chế biến không hết thì phải tổ chức bán đấu giá hoặc không qua đấu giá theo đúng quy định về ưu đãi nguyên liệu gỗ rừng trồng tại Quy định này.

1. Đối với khối lượng gỗ không bắt buộc phải bán đấu giá:

Việc khai thác rừng trồng có khối lượng nhỏ lẻ từ 200m3 trở xuống và cần phải giải phóng mặt bằng nhanh để phục vụ cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì được phép bán chỉ định.

a) Khi có giấy phép khai thác, tỉa thưa, chủ gỗ hoàn chỉnh các thủ tục về giá, gửi thông báo cho các đơn vị tinh chế gỗ để chọn đơn vị mua gỗ, tiến hành ký kết hợp đồng mua bán gỗ, sau đó mới được tiến hành khai thác.

b) Sau 15 ngày làm việc, kể từ ngày chủ gỗ gửi thông báo cho các đơn vị tinh chế gỗ, mà các đơn vị tinh chế gỗ không thống nhất giá gỗ, không đến ký kết hợp đồng mua bán thì chủ gỗ được quyền giải quyết bán lô gỗ đó cho các đơn vị khác theo nguyên tắc giá bán phải bằng hoặc lớn hơn giá gỗ đưa ra thoả thuận với các đơn vị tinh chế gỗ cho tất cả các đơn vị được quyền tham gia mua gỗ theo quy định hiện hành của Nhà nước.

2. Đối với khối lượng gỗ bắt buộc bán đấu giá (trên 200m3):

a) Khi có giấy phép khai thác, tỉa thưa thì chủ gỗ phải lập thủ tục trình duyệt giá gỗ khởi điểm.

Chậm nhất là 03 ngày làm việc khi nhận được văn bản duyệt giá khởi điểm, chủ gỗ gửi thông báo mời dự đấu giá, tổ chức đấu giá hạn chế cho các đơn vị tinh chế gỗ theo danh sách công bố của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Việc khai thác, tỉa thưa chỉ tiến hành khi ký kết xong hợp đồng mua bán với đơn vị trúng thầu.

b) Đúng thời gian tổ chức đấu giá mà không có đơn vị tinh chế gỗ nào tham gia đấu giá; hoặc đấu giá trúng mà không ký kết hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ tài chính theo các quy định thì chủ gỗ được quyền tổ chức đấu giá bán gỗ tại bãi giao với tất cả các đơn vị được quyền tham gia đấu giá gỗ theo quy định hiện hành của Nhà nước.

3. Thời gian khai thác, nghiệm thu, kiểm tra xác nhận, tiêu thụ gỗ tròn:

Thời gian khai thác, nghiệm thu, kiểm tra xác nhận, xuất kho tiêu thụ gỗ tròn rừng trồng không quá 20 ngày làm việc; trong đó:

a) Khai thác, đo đếm, lập lý lịch (nếu đủ tiêu chuẩn lập lý lịch gỗ tròn) không quá 15 ngày làm việc/đợt (do chủ gỗ thực hiện ).

b) Kiểm tra, xác nhận lý lịch gỗ tròn không quá 03 ngày làm việc sau khi có đề nghị của chủ gỗ (do cơ quan Kiểm lâm thực hiện ).

c) Viết hóa đơn, phiếu xuất kho, thu tiền, giao gỗ cho khách hàng (đơn vị mua gỗ) không quá 02 ngày làm việc sau khi cơ quan Kiểm lâm đã lập biên bản xác nhận (do chủ gỗ phối hợp cùng khách hàng thực hiện).