Điều 4. Điều kiện công nhận sáng kiến cơ sở
Sửa đổi bởi 116/2026/QĐ-UBND · hiệu lực 19/08/20261. Giải pháp được công nhận là sáng kiến nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
a) Có tính mới trong phạm vi cơ sở đó
Một giải pháp được coi là có tính mới trong phạm vi một cơ sở nếu tính đến trước ngày nộp đơn yêu cầu công nhận sáng kiến, hoặc ngày bắt đầu áp dụng thử hoặc áp dụng lần đầu (tính theo ngày nào sớm hơn), trong phạm vi cơ sở đó, giải pháp đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
Không trùng với nội dung của giải pháp trong đơn đăng ký sáng kiến nộp trước; Chưa bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được;
Không trùng với giải pháp của người khác đã được áp dụng hoặc áp dụng thử, hoặc đưa vào kế hoạch áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện để áp dụng, phổ biến;
Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện.
b) Có khả năng áp dụng hoặc đã được áp dụng trong công việc của cá nhân tại đơn vị và có thể áp dụng hoặc đã được áp dụng mở rộng sang các đơn vị khác. c) Có khả năng mang lại lợi ích thiết thực: Việc áp dụng giải pháp đó có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế (ví dụ: nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công tác quản lý, giảm chi phí sản xuất, chi phí quản lý hành chính, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nâng cao hiệu quả kỹ thuật, tiết kiệm thời gian giải quyết thủ tục hành chính...) hoặc lợi ích xã hội (ví dụ: nâng cao điều kiện an toàn lao động, cải thiện điều kiện sống, làm việc, bảo vệ môi trường, sức khỏe con người...).
2. Giải pháp không đáp ứng điều kiện công nhận sáng kiến trong các trường hợp sau đây:
a) Việc công bố hoặc áp dụng giải pháp trái với trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội;
b) Giải pháp thuộc đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật tính đến thời điểm xét công nhận sáng kiến, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
c) Giải pháp vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản 6 Điều 3 Quy định này