Điều 9. Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản
Trong trường hợp mỏ có cấu trúc địa chất phức tạp hoặc trong trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo và đề xuất trình Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản để điều hành phiên đấu giá theo quy định tại Điểm 2, Điều 12 Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ.
1. Thành phần Hội đồng có số lượng không quá 11 thành viên, bao gồm:
a. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh: Chủ tịch Hội đồng;
b. Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường: Phó Chủ tịch, thường trực Hội đồng;
c. Ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Tư pháp, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Xây dựng và đại diện Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có khu vực khoáng sản được đưa ra đấu giá;
d. Đại diện của Sở Tài nguyên và Môi trường: Thư ký Hội đồng;
đ. Có thể mời chuyên gia thuộc lĩnh vực địa chất khoáng sản.
2. Quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo quy định tại Khoản 1, Điều 13 Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ.
3. Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản hoạt động theo quy định tại Thông tư số 16/2014/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thường trực của Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản, có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ, tài liệu trước và sau phiên đấu giá.