Điều 7. Phối hợp tổ chức cưỡng chế, khắc phục hậu quả.
1. Đối với các công trình đê điều phòng chống lụt bão
a. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã: Căn cứ Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, quy định tại Điều 23 - Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đê điều, phòng chống lụt bão, để ra các quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
b. Ủy ban nhân dân cấp huyện: Chủ trì tổ chức cưỡng chế việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi các đối tượng vi phạm pháp luật về đê điều không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các đơn vị liên quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện: Xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng cưỡng chế giải tỏa vi phạm theo đúng thẩm quyền và đảm bảo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
c. Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn: Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc tổ chức cưỡng chế giải tỏa các hành vi vi phạm pháp luật về đê điều thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chính quyền cấp huyện.
Chỉ đạo Chi cục Quản lý đê điều & Phòng chống lụt bão giao Hạt Quản lý đê:
- Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế giải tỏa vi phạm.
- Xác định mốc giới bảo vệ công trình đê điều, thoát lũ; phạm vi công trình vi phạm; vấn đề về kỹ thuật liên quan đến an toàn công trình đê điều, thoát lũ.
d. Công an tỉnh chỉ đạo các phòng nghiệp vụ trực thuộc và Công an huyện, thành phố theo chức năng nhiệm vụ, có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.
2. Đối với các công trình thủy lợi
a. Ủy ban nhân dân cấp xã: Căn cứ thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quy định tại Điều 23 Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đê điều, phòng chống lụt bão, để ra các quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
b. Ủy ban nhân dân cấp huyện: Chủ trì phối hợp tổ chức cưỡng chế việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi các đối tượng vi phạm pháp luật về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các đơn vị liên quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện: Xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng cưỡng chế giải tỏa vi phạm theo đúng thẩm quyền và đảm bảo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
c. Các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi: Phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện, thành phố trong việc tổ chức cưỡng chế giải tỏa các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chính quyền huyện, thành phố.
Chỉ đạo các Cụm Thủy nông (Trạm) hoàn chỉnh hồ sơ vi phạm, xác định mốc giới bảo vệ công trình thủy lợi làm cơ sở cho việc giải tỏa vi phạm; phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế giải tỏa vi phạm; giải toả ngay các vi phạm trong lòng kênh, như: đăng đó, trà vó,...
d. Công an tỉnh chỉ đạo các phòng nghiệp vụ trực thuộc và Công an huyện, thành phố theo chức năng nhiệm vụ, có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.