vanban.org

Điều 1. Ban hành quy định thu phí sử dụng bến, bãi đối với gỗ và lâm sản khác tại các cửa khẩu, lối mở trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, cụ thể như sau: — Quyết định 16/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 29/09/2013 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Đắk Nông Ban hành 19/09/2013 Hiệu lực 29/09/2013 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 16/2013/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Ban hành quy định thu phí sử dụng bến, bãi đối với gỗ và lâm sản khác tại các cửa khẩu, lối mở trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, cụ thể như sau:

1. Đối tượng nộp phí: Tổ chức, cá nhân có hoạt động nhập khẩu gỗ và lâm sản khác tại các cửa khẩu, lối mở trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có sử dụng bến, bãi.

2. Mức thu phí: Bằng 3% (ba phần trăm) doanh thu thu được từ việc sản xuất, kinh doanh các mặt hàng gỗ và lâm sản khác có sử dụng bến, bãi tại các cửa khẩu, lối mở trên địa bàn tỉnh Đắk Nông của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu gỗ và lâm sản khác. Doanh thu các mặt hàng gỗ và lâm sản khác được xác định trên cơ sở quy định giá gỗ tròn, gỗ xẻ, lâm sản ngoài gỗ và động vật rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.

3. Cơ quan thu phí: Giao Hạt Kiểm lâm các huyện: Đắk Mil, Cư Jút, Tuy Đức, Đắk Song thực hiện việc thu phí bến, bãi đối với mặt hàng gỗ và lâm sản khác tại các cửa khẩu, lối mở trên địa bàn tỉnh. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các Hạt kiểm lâm triển khai thực hiện.

4. Biên lai thu phí: Biên lai thu phí do cơ quan Thuế cấp. Các Hạt Kiểm lâm được giao nhiệm vụ thu phí liên hệ trực tiếp với Cục Thuế tỉnh để được cấp và hướng dẫn sử dụng biên lai thu phí. Việc quản lý, sử dụng biên lai thực hiện theo quy định tại Thông tư số 153/2012/TT-BTC ngày 17 tháng 9 năm 2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc in, phát hành, quản lý và sử dụng các loại chứng từ thu tiền phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước.

5. Quản lý và sử dụng số phí thu được: Cơ quan thu được trích lại 5% trên tổng số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho công tác tổ chức thu. Số tiền còn lại (95%) cơ quan thu có trách nhiệm nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo chương, loại, khoản, mục của Mục lục ngân sách nhà nước. Việc quản lý sử dụng số tiền phí được để lại (sau khi trích nộp vào ngân sách nhà nước) thực hiện theo quy định tại Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 7 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí; Thông tư số 45/2006/TT-BTC ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2002/TT-BTC.