Điều 7. Bảo quản tài sản bán đấu giá
1. Đối với tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước do vi phạm hành chính:
Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện có trách nhiệm bảo quản tài sản được chuyển giao để bán đấu giá. Trường hợp tài sản chuyển giao là hàng hoá cồng kềnh hoặc có số lượng lớn không có nơi cất giữ, bảo quản, thì sau khi thực hiện xong thủ tục chuyển giao, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện có thể ký hợp đồng bảo quản tài sản với nơi đang giữ tang vật, phương tiện đó. Chi phí thực hiện hợp đồng bảo quản tài sản được thanh toán từ số tiền bán đấu giá thu được sau khi bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị định 128/2008/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Đối với tài sản nhà nước theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thì cơ quan, tổ chức, đơn vị đang quản lý, sử dụng tài sản có trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản cho đến khi bàn giao tài sản cho người mua tài sản.
3. Đối với tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, tài sản thu hồi từ các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước khi dự án kết thúc hoạt động, tài sản xác lập quyền sở hữu nhà nước, được thực hiện theo Thông tư số 166/2009/TT-BTC ngày 18/8/2009 của Bộ Tài chính.
4. Đối với các loại tài sản quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có tài sản bán đấu giá giao cho tổ chức bán đấu giá bảo quản thì tổ chức bán đấu giá có trách nhiệm bảo quản tài sản đó cho đến khi bàn giao tài sản cho người mua tài sản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Chi phí bảo quản, giao tài sản bán đấu giá được thanh toán từ số tiền thu được sau khi bán đấu giá tài sản.