Điều 1. Quy định cụ thể một số chính sách về bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 như sau:
1. Quy định cụ thể Điều 9. Giá đất tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại:
Khoản 3:
Trường hợp có chi phí đầu tư vào đất nhưng không có hồ sơ chứng từ để xác định, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường hỗ trợ và tái định cư phối hợp với UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) kiểm tra thực tế, xác nhận bằng văn bản để làm căn cứ tính bồi thường, hỗ trợ. Mức bồi thường, hỗ trợ cụ thể như sau:
- Đất phi nông nghiệp không đủ điều kiện được bồi thường, thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất tính bằng mức bồi thường đất nông nghiệp trồng cây lâu năm vị trí 1 (không bao gồm các khoản hỗ trợ khác).
- Đất nông nghiệp không đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất tính bằng 30% giá đất nông nghiệp cùng vị trí (không bao gồm các khoản hỗ trợ khác).
2. Quy định cụ thể Điều 16. Bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ:
2.1. Điểm b khoản 2:
Không làm thay đổi mục đích sử dụng đất, nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tế, cụ thể như sau:
- Đất nông nghiệp, mức bồi thường bằng 30% giá đất nông nghiệp của vị trí đó, trường hợp đất trồng cây lâu năm phải chuyển sang đất trồng cây hàng năm thì bồi thường thiệt hại giá trị vườn cây lâu năm.
- Trường hợp đất phi nông nghiệp (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn công trình) nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tế, mức bồi thường không quá 50% giá đất bồi thường của vị trí đó đối với diện tích bị ảnh hưởng. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường xác định giá trị thiệt hại thực tế trong phương án bồi thường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2.2. Quy định bổ sung đối với trường hợp thu hồi đất, trưng dụng đất tạm thời:
Trường hợp UBND cấp có thẩm quyền trưng dụng đất có thời hạn do yêu cầu thực hiện tình trạng khẩn cấp, hoặc trưng dụng đất để sử dụng thi công công trình có thời hạn, thì người đang sử dụng đất bị trưng dụng đất được bồi thường, hỗ trợ thiệt hại bao gồm: bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, vật nuôi trên đất; được miễn tiền thuê đất, tiền thuế sử dụng đất trong thời hạn trưng dụng trường hợp trưng dụng đất nông nghiệp được hỗ trợ ổn định đời sống theo tỷ lệ diện tích và mức hỗ trợ bằng 50% quy định tại khoản 3 Điều 2 quyết định này và được hỗ trợ cải tạo phục hồi đất bằng 30% giá đất của vị trí đó (đối với đất nông nghiệp). Tổ chức sử dụng đất trưng dụng phải phục hồi lại đất nếu làm thay đổi trạng thái địa hình bề mặt, chiều sâu lòng đất thì phải hoàn thổ trước khi trả lại đất.
3. Quy định cụ thể Điều 20. Xử lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ về nhà, công trình:
3.1. Điểm b khoản 2:
Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP nhưng tại thời điểm xây dựng mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền phê duyệt công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ bằng 80%, mức bồi thường theo Điều 24 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.
3.2. Điểm c khoản 2:
Nhà ở, công trình xây dựng khác được xây dựng trước ngày 01/7/2004 trên đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi thường; trường hợp đặc biệt hộ gia đình là đối tượng chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, hộ nghèo theo chuẩn nghèo, mức hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường quy định theo Điều 24 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.
4. Quy định cụ thể Điều 21. Bồi thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước:
Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, mức bồi thường do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định theo giá trị thực tế cải tạo, sửa chữa nâng cấp các hạng mục của công trình đến thời điểm thông báo chủ trương thu hồi đất.
5. Quy định cụ thể Điều 22. Bồi thường về di chuyển mồ mả:
5.1. Đối với việc di chuyển mồ, mả: mức bồi thường được tính cho chi phí về đất đai: đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên quan, mức bồi thường cụ thể như sau:
| STT | Loại mồ mả | Mức bồi thường (đồng/mộ) |
| 1 | Mộ chưa cải táng | |
| a | Mộ đất, xếp đá trên ba (03) năm | 2.000.000,0 |
| b | Mộ đắp đất trên ba (03) năm | 1500.000,0 |
| c | Mộ đất, xếp đá từ một (01) đến dưới ba (03) năm | 2.500.000,0 |
| d | Mộ đắp đất từ một (01) đến dưới ba (03) năm | 2000.000,0 |
| đ | Mộ đất, xếp đá dưới một (01) năm | 3.500.000,0 |
| e | Mộ đất dưới một (01) năm | 3.000.000,0 |
| 2 | Mộ đã cải táng | |
| a | Mộ đất, xếp đá | 1.000.000,0 |
| b | Mộ đắp đất | 800.000,0 |
Trong trường hợp di chuyển mồ mả đến nơi quy định mà phải nộp tiền sử dụng đất thì được tính bổ sung tiền sử dụng đất vào mức bồi thường.
5.2. Đối với mộ xây có kết cấu xây dựng phức tạp: Ngoài việc bồi thường theo quy định tại điểm 5.1 khoản này, còn được tính bồi thường cho phần xây dựng theo khối lượng thực tế, việc xác định khối lượng thực tế do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định và lập phương án bồi thường theo đơn giá quy của UBND tỉnh về bồi thường vật kiến trúc.
5.3. Đối với mộ chưa có người nhận (mộ vô chủ), Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập phương án bồi thường theo đơn giá quy định tại điểm 5.1 khoản này; chủ dự án chủ trì phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức di chuyển đến nơi quy định.
5.4. Đối với mộ khi di chuyển phát hiện có nhiều tiểu (thi hài) trong một mộ, thì mỗi tiểu được coi là một mộ và được tính bồi thường theo quy định tại điểm 5.1 khoản này.
5.5. Đối với nghĩa trang Liệt sĩ hoặc mộ của người nước ngoài thì chủ đầu tư và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, lập hồ sơ dự toán và gửi tới Sở Lao động thương binh và Xã hội thẩm định dự toán kinh phí, và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt cùng với phương án bồi thường. Sở Lao động thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp cùng chính quyền địa phương tổ chức di chuyển đến nơi quy định.
6. Quy định cụ thể Điều 24. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi:
6.1. Khoản 1:
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện (Phòng Kinh tế thị xã) có trách nhiệm xác định năng suất của vụ cao nhất trong ba (03) năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất làm căn cứ bồi thường.
6.2. Khoản 2:
Mức bồi thường đối với cây lâu năm được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây (không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) theo số lượng cây thực tế và đơn giá bồi thường do UBND tỉnh quy định.
Cây lâu năm thời kỳ kiến thiết cơ bản (chưa cho thu hoạch) thì giá trị hiện có của vườn cây là toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu gồm: giống, phân bón, chi phí trồng, chăm sóc đến thời điểm thu hồi tính bằng tiền theo đơn giá hiện hành của UBND tỉnh
Riêng đối với cây chè được tính theo sản lượng thu hoạch hai năm liền hoặc thực tế đầu tư trong thời kỳ xây dựng cơ bản.
6.3. Khoản 3:
Đối với cây trồng chưa cho thu hoạch, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp đang thời kỳ ươm giống chưa được suất vườn, và cây cảnh trồng trong chậu mà di chuyển được thì được bồi thường công bốc xếp, di chuyển, hao hụt bằng 20% tổng giá trị vườn cây di chuyển (không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) trên diện tích đất thu hồi. Đối với cây có giá trị đặc biệt không có trong đơn giá, không có loại cây giá trị tương đương thì khảo sát, xác định giá cụ thể trên thị trường trình cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt ban hành đơn giá.
6.4. Điểm b khoản 5:
Đối với vật nuôi (nuôi trồng thuỷ sản): Chỉ xác định bồi thường cho sản lượng nuôi trồng thuỷ sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến chu kỳ thu hoạch, mức bồi thường theo đơn giá do UBND tỉnh quy định.
6.5. Quy định bổ sung một số nội dung trong bồi thường cây trồng:
a). Giá bồi thường cây trồng, được xác định cho cây trồng, vườn ươm cây giống đúng định mức kinh tế kỹ thuật, mật độ quy định và hệ số xen canh cho phép của cấp có thẩm quyền. Nếu cây giống, cây trồng không đúng quy trình, định mức kinh tế kỹ thuật, mật độ quy định thì khi tính bồi thường phải tính giảm theo tỷ lệ tương ứng.
b) Bồi thường cây trồng xen được tính theo tỷ lệ không vượt quá 50% diện tích của cây trồng chính, các cây còn lại trồng quá mật độ quy định, không có hiệu quả không được tính bồi thường.
c) Tận thu sản phẩm cây cối, hoa màu: Sau khi có quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chủ sở hữu cây cối hoa màu được khai thác, tận thu sản phẩm. Trong trường hợp dự án đầu tư được chủ dự án xác định để lại tạo cảnh quan môi trường thì chủ sở hữu vườn cây không được chặt phá, thu hồi cây đã được bồi thường và được hỗ trợ bằng 30% giá trị đã bồi thường, chủ dự án có trách nhiệm chi trả và tiếp nhận, quản lý, bảo vệ.
7. Quy định cụ thể Điều 30. Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước:
Khoản 1:
Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất phải phá dỡ nhà, phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển bằng mức quy định tại điểm 1.1 khoản 1 Điều 2 của quyết định này.
Khoản 2:
Hộ gia đình, cá nhân là hộ sản suất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh và làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất phải phá dỡ nhà, phải di chuyển chỗ ở mà bị ngừng sản suất, kinh doanh, thì được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất một lần bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của ba năm liền kề trước đó và phải được cơ quan thuế xác nhận.
8. Quy định cụ thể Điều 31. Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của UBND xã:
Trường hợp khi thu hồi đất thuộc quỹ đất công ích do UBND cấp xã quản lý thì hỗ trợ bằng giá đất được UBND tỉnh công bố hằng năm (không bao gồm các khoản hỗ trợ khác). Số tiền này nộp vào ngân sách cấp xã quản lý theo Luật Ngân sách, UBND cấp xã được hưởng 100% để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng và mục đích công ích của xã.