Điều 11. Xử lý vi phạm
1. Trong phạm vi quyền hạn và chức năng của mình, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có quyền phê bình người đứng đầu cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp nếu trong phối hợp để xảy ra các vi phạm sau đây:
a) Cơ quan chủ trì không thực hiện đúng quy định về việc gửi hồ sơ, hoặc vi phạm thời hạn phối hợp theo quy định của quy chế này.
b) Cơ quan phối hợp vi phạm thời hạn phối hợp theo quy định của quy định này; không trả lời khi được hỏi ý kiến, hoặc được yêu cầu cung cấp thông tin; không tham gia họp.
c) Cơ quan có trách nhiệm phối hợp theo nguyên tắc quy định tại điều 6 Quy chế này từ chối cử cán bộ, công chức tham gia.
d) Không chấp hành đúng chế độ báo cáo theo quy định.
2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê bình các cơ quan, đơn vị vi phạm quy định trong hoạt động phối hợp. Thông báo được gửi đến các cơ quan, đơn vị có liên quan.
3. Trường hợp cán bộ, công chức được cử tham gia phối hợp không hoàn thành trách nhiệm phối hợp, thì cơ quan chủ trì ra thông báo gửi cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công chức đó biết để xử lý trách nhiệm theo quy định.
4. Trong một năm, người đứng đầu cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp không thực hiện hoạt động phối hợp tại Quy định này, mà Chủ tịch UBND tỉnh phê bình đến lần thứ ba, thì Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh áp dụng hình thức kỷ luật đối với người đó theo qu y định của Luật cán bộ, công chức.
5. Trong một năm, nếu một cán bộ, công chức ba lần bị cơ quan chủ trì ra thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều này thì Thủ trưởng cơ quan quản lý, sử dụng công chức xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định của Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức.