vanban.org

Điều 13. Bản quy chế lễ hội này thay thế bản Quy chế ban hành kèm theo quyết định 463/QĐ-UB ngày 02/6/1994 của UBND tỉnh Nam Hà, quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. — Quyết định 156 /1999/Q§-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/01/2000
Hà Nam Ban hành 30/01/1999 Hiệu lực 30/01/1999 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 156 /1999/Q§-UB › Chương III › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Bản quy chế lễ hội này thay thế bản Quy chế ban hành kèm theo quyết định 463/QĐ-UB ngày 02/6/1994 của UBND tỉnh Nam Hà, quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

QUY ƯỚC TANG LỄ THEO NẾP SỐNG VĂN HOÁ

Tang lễ là việc gia đình, tập thể, xã hội tổ chức tiễn đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Việc tổ chức tang lễ phải trang nghiêm, biểu hiện tình cảm thương tiếc, chân thành, thuỷ chung, vì vậy cần thực hiện những quy ước sau:

I/ Nguyên tác chung:

Gia đình có người chết trong bất cứ trường hợp nào, đều phải khai báo kịp thời  với chính quyền cơ sở. Không để người chết ở nhà quá 48 giờ. Trường hợp người chết vì bệnh dịch, gia đình phải tuyệt đối tuân theo sự chỉ đạo của cơ quan y tế. Những người chết đột xuất không rõ nguyên nhân hoặc có dấu hiệu tội phạm phải được cơ quan chức năng khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật trước khi khâm liệm. Người chết ở nơi khác (ngoài đường, sông …) nếu đã đưa về gia đình được quàn tại nhà hoặc ở nơi thích hợp, phải đảm bảo không cản trở giao thông và trật tự, vệ sinh công cộng.

II/ Tổ chức tang lễ:

1. Tổ chức trang trọng tiết kiệm, xoá bỏ mọi nghi lẽ lạc hậu, mê tín dị đoan.

2. Các cơ quan, đoàn thể, chính quyền địa phương cần giúp đỡ tang chủ tổ chức đám tang chu đáo theo nếp sống văn hoá.

3. Thành lập ban tang lễ;:

- Khi có người qua đời đại diện chính quyền, cơ quan, hội người cao tuổi, đoàn thể thôn, xóm, khu phố… cùng gia đình lập ban tổ chức tang lễ.

- Ban tổ chức tang lễ có trách nhiệm kết hợp chặt chẽ và giúp đỡ tang chủ tổ chức chu đáo việc tang trên tinh thần, trang trọng, gọn gàng, tiết kiệm, tương trợ đoàn kết cộng đồng.

- Nếu người qua đời không có gia đình hoặc không có người thân đứng ra lo liệu thì chính quyền đại phương phối hợp với các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội chịu trách nhiệm tổ chức đám tang chu đáo.

4. Khâm liệm và nhập quan:

-  Gia đình có người chết phải vệ sinh tẩy uế sạch sẽ đồ dùng, giường nằm của người chết, không để lâu mới khâm liệm làm ô nhiễm môi trường.

- Khi khâm liệm xoá bỏ hủ tục: lễ phạt mộc, tống tiễn, hú hồn, yểm bùa, không đưa người chết vào nhà thờ, đình đền, chùa để làm lễ.

5. Lễ viếng:

- Đảm bảo trang trọng, thiết thực, Không phúng viếng linh đình, phô trương lãng phí. Không phúng viếng bằng thức ăn chín, viếng vòng hoa chỉ nên dành cho các đầu mối cơ quan, tập thể.

- Các vị chức sắc tôn giáo được phép đến làm lễ tại gia tình tang chủ. thời gian làm lễ không quá 45 phút. Nghiêm cấm các hình thức mê tín dị đoan.

6. Nhạc tang:

- Kèn chống loa đaì phục vụ lế tang từ 5 giờ đến 23 giờ cùng ngày, sử dụng âm thanh vừa đủ.

- Trong một đám tang chỉ nên dùng một loại nhạc tang theo phong tục truyền thống.

7. Đưa tang:

- Đến giờ đưa tang ban tang lễ đọc điếu văn mọi ngưòi giữ thái độ trang nghiêm, yên lặng, tỏ thái độ thương tiếc đối với người quá cố.

- Khi đưa tang không gây cản trở giao thông công cộng, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu.

8. Hạ huyệt đắp mồ:

- Huyệt đào sâu ít nhất 1,5 m

- Khi hạ quan tài xuống huyệt, mọi người đưa tang để một phút mạc niệm, sau đó lấp huyệt, đắp mồ, dựng bia, đặt vòng hoa thắp hương. Đại diện tang chủ có lời cảm tạ những người đưa tiễn.

III/ Một số quy định khác:

1. Các địa phương quy định khu vực nghĩa trang xã khu dân cư và nguồn nước ăn, tránh ô nhiễm môi trường. Có người trông coi nghĩa trang và hướng dẫn việc đặt mồ mả theo thứ tự, tránh lãng phí ruộng đất. Kuyến khích thực hiện việc " đào sâu, chôn chặt, không cải táng" " hoá thân hoàn vũ " nếu địa phương nào còn duy trì nếp cải táng thì việc cải táng chỉ được thực hiện sau 3 năm trở lên để đảm bảo vệ sinh.

2. Gia đình có ngươì  quá cố có trách nhiệm thực hiện việc chôn, cất theo khu vực quy định của địa phương.

3.Không tổ chức ăn uống linh đình trong đám tang. Các lễ nghi 3 ngày, tuần đầu, 49 ngày, 100 ngày, ngày giỗ hàng năm nên tổ chức gọn nhẹ tiết kiệm.

4. Để tang có những hình thức: Chít khăn trắng , đeo băng đen ở cánh tay, đính miếng vải đen trước ngực trái… Để tang không cản việc lấy vợ, lấy chồng, làm nghĩa vụ công dân và tham gia các hoạt động xã hội khác.

QUY ƯỚC VIỆC CƯỚI THEO NẾP SỐNG VĂN HOÁ

Cưới là việc hệ trọng trong cuộc đời mỗi người. Xây dựng tập quán tốt đẹp, lành mạnh trong việc cưới là biểu hiện sự văn minh, văn hoá trong xã hội tiến bộ. Việc cưới phải thực hiện theo các quy ước sau:

I/Nguyên tắc chung:

1. Thực hiện việc cưới theo đúng luật hôn nhân gia đình: hôn nhân tự nguyện và tiến bộ; một vợ một chồng; nam nữ bình đẳng; cấm tảo hôn; cấm cưỡng ép hôn nhân; cấm thách cưới; cấm đầu cơ trục lợi trong việc cưới. Kiên quyết đấu tranh bài trừ mê tín dị đoan trong hôn nhân.

2. Việc cưới phải được tổ chức lành mạnh, văn minh tiết kiệm và phù hợp với truyền thống văn hoá địa phương, thể hiện vẻ đẹp văn hoá của cộng đồng.

II/ Các thể thức cơ bản trong việc cưới:

Để trở thành vợ chồng, đôi nam nữ phải kết hôn tại UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai người. Đây là điều kiện bắt buộc.

1. Đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn.

- UBND xã, phường thị trấn hướng dẫn và tổ chức đăng ký kết hôn đúng thủ tục Nhà nước đã quy định.

- Lễ trao giấy chứng nhận kết hôn: là nghi thức bắt buộc vì đây là lễ thành hôn chính thức về mặt pháp lý, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, trang trọng.

- Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn chủ trì và trực tiếp trao giấy chứng nhận kết hôn tại một trong các địa điểm: Trụ sở UBND, phòng họp, hội trường, nhà văn hoá… Trang trí nơi tổ chức phải có Quốc huy. Không tổ chức ăn uống trong buổi lễ trao giấy chứng nhận kết hôn.

2. Các thủ tục việc cưới:

a. Chạm gõ: Chạm gõ là nghi thức tạo mối quan hệ và trách nhiệm giữa hao gia đình cho hạnh phúc đôi nam nữ. Không tổ chức rườm rà, lãng phí.

b. Lễ hỏi: là nghi thức mang tính phong tục, xác định trách nhiệm của hai gia đình trong việc tổ chức cưới cho đôi nam nữ và thống nhất thời gian tiến hành lễ cưới. không phô trương lãng phí và thách cưới tốn kém.

c. Lễ cưới:

- Được tổ chức sau lễ trao giấy chứng nhận kết hôn của chính quyền địa phương.

- Địa điểm tổ chức lễ cưới được trang trí hài hoà, đẹp, lịch sự.

- Không sử dụng những văn hoá phẩm đồi truỵ, kích động sử dụng loa, đài với công xuất vừa đủ và chỉ đạo hoạt động trong thời gian từ 5 giờ đến 23 giờ trong ngày.

- Trang phục cô dâu , chú rể đẹp, lịch sự, phù hợp điều kiện kinh tế của từng gia đình và truyền thống văn hóa của địa phương.

- Việc đưa đón dâu đảm bảo an toàn, tiết kiệm thuận lợi, không làm ảnh hưởng đến giao thông và trật tự công cộng.

- Chủ hôn là người có uy tín, có kinh nghiệm điều hành để lễ cươí vui tươi và chu đáo, thời gian tổ chức lễ cưới không quá 45 phút.

- Chỉ nên tổ chức ăn uống, mừng lễ cưới trong phạm vi gia đình, họ hàng bạn bè thân thiết, Đối với bạn bè quan hệ công tác thì nên sử dụng hình thức báo hỷ sau khi tổ chức lễ cưới hoặc sau khi tổ chức lễ trao giấy chứng nhận kết hôn mà không  tổ chức lễ cưới./.