Điều 24. Xác định giá khởi điểm và thẩm quyền phê duyệt giá khởi điểm bán thanh lý tài sản công
1. Các trường hợp thanh lý tài sản công khi đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Tài sản công hết hạn sử dụng theo chế độ mà phải thanh lý.
b) Tài sản công chưa hết hạn sử dụng nhưng bị hư hỏng mà không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không hiệu quả (dự toán chi phí sửa chữa lớn hơn 30% nguyên giá tài sản).
c) Nhà làm việc hoặc tài sản gắn liền với đất phải phá dỡ để thực hiện dự án đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng hoặc các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Các trường hợp thanh lý xe ô tô khi đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Đã quá thời gian sử dụng theo quy định của pháp luật về chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định.
b) Đã sử dụng trên 200.000 km đối với xe ô tô của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước có trụ sở đóng trên địa bàn miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đã sử dụng trên 250.000 km đối với xe ô tô của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước có trụ sở đóng trên địa bàn còn lại.
c) Chưa đủ điều kiện quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng bị hư hỏng mà không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không hiệu quả (dự toán chi phí sửa chữa lớn hơn 30% so với nguyên giá).
3. Xác định giá khởi điểm bán thanh lý tài sản công
Việc xác định giá khởi điểm thanh lý tài sản công thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ.
4. Thẩm quyền phê duyệt giá khởi điểm bán thanh lý tài sản
a) Giám đốc Sở Tài chính phê duyệt giá khởi điểm bán thanh lý tài sản công đối với xe ô tô các loại trên cơ sở đề nghị của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
b) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ tổ chức bán tài sản phê duyệt giá khởi điểm bán tài sản công không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều này trên cơ sở tham mưu của bộ phận tài chính của cơ quan, đơn vị, tổ chức.