Điều 6. Phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về đầu tư, doanh nghiệp
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản và hồ sơ dự án đầu tư do BQL gửi trình xin ý kiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xin chủ trương đầu tư đối với dự án; đối với các dự án thuộc diện xin chủ trương của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo xin ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy hoặc Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo quy định.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm trao đổi thông tin (qua điện thoại, email hoặc văn bản) với BQL trước khi thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp đăng ký thành lập tại các KCN của tỉnh.
3. Khi thực hiện đăng ký đầu tư vào các KCN cho các nhà đầu tư, ngoài việc thực hiện sao y giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật, BQL có trách nhiệm gửi bản sao y đến Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố nơi có KCN.
4. Hằng năm, BQL có trách nhiệm đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án đầu tư trong các KCN gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo yêu cầu, đồng thời gửi Ủy ban nhân dân các huyện, thanh phố (nơi có KCN) để nắm tình hình, phối hợp quản lý.
5. BQL có trách nhiệm điều chỉnh, thu hồi, cấp lại chấp thuận đầu tư, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư (nay là giấy chứng nhận đăng ký đầu tư) của các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài do Ủy ban nhân dân tỉnh đã cấp đầu tư vào các KCN.