Điều 21. Tuyến trình khen thưởng
1. Tuyến trình khen thưởng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ; Thông tư 02/2011/TT-BNV ngày 24 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ và các hướng dẫn của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương.
2. Đối với các đơn vị ngành dọc và Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh do bộ, ngành, Trung ương quản lý về biên chế, tổ chức thì do cơ quan cấp trên của các đơn vị do xét công nhận danh hiệu thi đua; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ khen thưởng chuyên đề, đột xuất các phong trào thi đua do tỉnh phát động và khen thưởng cho một số tập thể và cá nhân thật sự tiêu biểu, xuất sắc có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh.
3. Đối với doanh nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập (cổ phần, đổi mới, sắp xếp) do doanh nghiệp trình khen.
4. Các tập thể, cá nhân thuộc các bộ, ngành Trung ương, các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, tập đoàn kinh tế … nếu có nhiều đóng góp cho sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương thì Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đó quyết định khen thưởng hoặc có văn bản nhận xét đề nghị cơ quan quản lý trực tiếp của tổ chức, cá nhân đó khen thưởng. Trường hợp có thành tích xuất sắc hoặc đóng góp to lớn cho các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương (kể cả đối tượng là người nước ngoài) thì đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen.
5. Đối với những đơn vị thuộc đối tượng có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động, thì khi trình các hình thức khen thưởng cấp tỉnh trở lên cho tập thể hoặc cá nhân là thủ trưởng đơn vị thì trong báo cáo thành tích phải kê khai rõ số tiền thuế và các khoản thu khác thực tế đã nộp trong năm so với đăng ký; tỷ lệ % về số nộp ngân sách nhà nước so với năm trước; cam kết đã nộp đủ, đúng các loại thuế, nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động và nộp đúng thời hạn.