Điều 14. Quản lý tài chính nhiệm vụ ươm tạo công nghệ
1. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ ươm tạo công nghệ được cấp từ các nguồn sau đây:
a) Ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của cơ quan chủ quản;
b) Kinh phí do cơ quan chủ trì hoặc người chủ trì thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ huy động;
c) Đóng góp của các cơ quan, đơn vị, cá nhân thụ hưởng nhiệm vụ ươm tạo công nghệ;
d) Kinh phí lồng ghép với các chương trình dự án khác;
đ) Các nguồn kinh phí khác.
2. Chế độ chi tiêu đối với nhiệm vụ ươm tạo công nghệ được áp dụng theo các chế độ hiện hành về khoa học và công nghệ do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
3. Kinh phí cấp từ ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ cho một nhiệm vụ ươm tạo công nghệ không quá 450 triệu đồng/năm.
4. Các nội dung chi cho việc thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ bao gồm:
a) Thuê khoán chuyên môn (nội dung này không được vượt quá 40% tổng kinh phí của nhiệm vụ ươm tạo công nghệ).
b) Mua sắm phụ tùng, linh kiện, dụng cụ, vật tư, nguyên liệu, tài liệu, sách v.v ... để phục vụ nghiên cứu.
c) Chi phí điện, nước, thông tin.
d) Mời chuyên gia nước ngoài tư vấn khoa học, hợp tác nghiên cứu, cử cán bộ đi đào tạo ngắn hạn hoặc dự hội nghị khoa học ở trong và ngoài nước.
đ) Chi quản lý và chi khác (nếu có).
5. Giao dự toán kinh phí hàng năm
a) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ ươm tạo công nghệ được thông báo từ Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính đến cơ quan chủ quản trong kế hoạch khoa học và công nghệ hàng năm.
b) Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ hàng năm đã được thoả thuận với Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ quan chủ quản giao dự toán cho các cơ quan chủ trì thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ.
6. Việc phân bổ kinh phí áp dụng theo quy chế hiện hành. Cơ quan chủ trì thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ quyết toán kinh phí với Kho bạc Nhà nước đồng thời tổng hợp báo cáo gửi cơ quan chủ quản, Bộ Khoa học và Công nghệ.