Điều 3. Đối tượng xác định chủ rừng PAM:
1. Chủ rừng PAM là những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có một trong các điều kiện sau đây:
a) Đã trực tiếp nhận vốn tài trợ của PAM để trồng rừng trên đất được Nhà nước giao quyền sử dụng ổn định, lâu dài cho mình;
b) Đã trực tiếp nhận vốn tài trợ của PAM để trồng rừng trên đất do người có quyền sử dụng đất hợp pháp lâu dài giao khoán theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên (Bên giao khoán và Bên nhận khoán);
c) Đã được các hợp tác xã, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng hợp pháp rừng PAM hoặc được chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp và người được chuyển nhượng đã trồng rừng PAM.
2. Đối với rừng PAM do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã trồng trên đất quy hoạch các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu thì nay giao lại cho các Tổ chức được Nhà nước giao quản lý các khu rừng đó làm chức năng chủ rừng. Các Tổ chức này khoán ổn định lâu dài cho họ bảo vệ và khai thác theo quy định của từng loại rừng.
3. Đối với rừng PAM xuất do các hợp tác xã, hoặc các tổ chức đã trồng trên đất quy hoạch rừng sản xuất nay đã giải thể, nhưng chưa chuyển nhượng hợp pháp quyền sử dụng đất và rừng đó, thì giao lại cho Uỷ ban nhân dân xã trực tiếp quản lý để giao khoán cho các hộ gia đình.