vanban.org

Điều 2. Giao Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Cà Mau, Kiên Giang chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức chỉđạo xử lý nợ vay theo hướng: — Quyết định 144/2002/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 09/11/2002 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 28/11/2002 Sửa đổi, bổ sung: 172/2002/QĐ-TTg · 28/11/2002
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 24/10/2002 Hiệu lực 09/11/2002 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 23 năm
Quyết định số 144/2002/QĐ-TTg Về một số biện pháp xử lý nợ vay vốn sửa chữa, đóng mới tầu thuyền, mua sắm ngư cụ từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi theo Quyết định số 985/TTg ngày 20/11/1997 của Thủ tướng Chính phủ. · 144/2002/QĐ-TTg
28/11/2002172/2002/QĐ-TTgSửa đổi Hiện hành 09/11/2002Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 144/2002/QĐ-TTg › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Giao Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Cà Mau, Kiên Giang chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức chỉđạo xử lý nợ vay theo hướng:

1. Phân loại các chủ nợ để có biện pháp xử lý cụ thể:

a) Đối với các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đang trả được nợ, nếu có nhu cầu vay thêm vốn thì các Ngân hàng thương mại xem xét cho vay tiếp theo quy định hiện hành về cho vay thương mại.

b) Đối với các hộ có khả năng trả được nợ, nhưng cố tình chây ỳ, không trả nợ thì không gia hạn, giãn nợ và kiên quyết thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

c) Đối với những hộ sử dụng vốn vay sai mục đích: kiểm tra, lập biên bản tài sản hình thành từ nguồn vốn vay, chuyển số dư nợ còn lại sang loại cho vay thương mại và thu hồi nợ theo quy định hiện hành.

d) Đối với các hộ sản xuất kinh doanh thua lỗ, đời sống gặp khó khăn:

Các hộ có tay nghề, có khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, nhưng do nguyên nhân khách quan, hoặc thiếu vốn mà chưa trả được nợ đúng hạn thì xem xét cho gia hạn, giãn nợ, định lại kỳ hạn trả nợ, hoặc nếu có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì xem xét cho vay tiếp (với lãi suất thương mại hiện hành) để đảm bảo thu hồi được nợ gốc và lãi.

Các hộ gặp rủi ro bất khả kháng: tầu bị đắm, bị mất tích do thiên tai, tầu bị nước ngoài bắt giữ không trả.... không có khả năng trả được nợ thì Uỷ ban nhân dân tỉnh lập hồ sơ gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để tổng hợp, đề xuất biện pháp xử lý chung, báo cáo Chính phủ. 

Sửa đổi bởi 172/2002/QĐ-TTg · hiệu lực 28/11/2002

Điều 2: 

2. Về chuyển đổi chủ tàu và nợ vay:

a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương phối hợp với các ngân hàng cho vay để xem xét, xử lý bán đấu giá công khai con tàu để thực hiện việc chuyển đổi chủ tàu từ chủ cũ là những hộ tay nghề kém, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thường xuyên thua lỗ, không trả được nợ ngân hàng, hoặc chủ tàu bị chết, không có người thay thế để tổ chức sản xuất kinh doanh.

b) Chủ tàu mới chuyển trả ngân hàng khoản tiền bằng giá trị con tàu sau khi bán đấu giá và không phải nộp tiền thuế chuyển quyền sở hữu tài sản mới nhận. Các chủ tàu mới có thể được các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng xem xét cho vay vốn để mua tàu theo các quy định hiện hành về cho vay thương mại.

c) Chủ tàu cũ tiếp tục phải nhận nợ với ngân hàng khoản chênh lệch thiếu giữa dư nợ ngân hàng với giá trị con tàu khi chuyển đổi. Trường hợp chủ tàu cũ không có khả năng trả phần nợ này, thì cho phép thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2.