Điều 13. Kiểm tra hồ sơ
1. Bán và chuyển ngoại tệ:
a. Khi bán và chuyển ngoại tệ cho Công dân Việt Nam với số lượng dưới mức phải khai báo Hải quan, Ngân hàng được phép có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ cho từng mục đích nêu tại Chương II Quy định này.
b. Khi bán, chuyển ngoại tệ cho Công dân Việt Nam với số lượng từ mức phải khai báo Hải quan trở lên, Ngân hàng được phép phải căn cứ vào Giấy phép chuyển ngoại tệ do Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cấp.
Trường hợp công dân Việt Nam phải sử dụng Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp để mua, chuyển ngoại tệ nhiều lần, tại nhiều Ngân hàng được phép thì khi bán, chuyển ngoại tệ cho Công dân Việt Nam, các Ngân hàng được phép phải ghi số lượng ngoại tệ đã bán, chuyển và đóng dấu lên Giấy phép do Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cấp. Tổng số ngoại tệ mua, chuyển tại các Ngân hàng phải nằm trong phạm vi số ngoại tệ được Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cho phép.
2. Bán ngoại tệ tiền mặt:
a. Khi bán ngoại tệ tiền mặt cho Công dân Việt Nam với số lượng dưới mức phải khai báo Hải quan, Ngân hàng được phép có trách nhiệm kiểm tra hộ chiếu và chứng từ vận chuyển hành khách và phải ghi số ngoại tệ đã bán và đóng dấu lên cuống chứng từ vận chuyển hành khách.
b. Khi bán ngoại tệ tiền mặt cho Công dân Việt Nam với số lượng từ mức phải khai báo Hải quan trở lên, Ngân hàng được phép phải căn cứ vào Giấy phép mang ngoại tệ do Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cấp.
Trường hợp công dân Việt Nam phải sử dụng Giấy phép do Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cấp để mua ngoại tệ nhiều lần, tại nhiều Ngân hàng được phép thì khi bán ngoại tệ cho Công dân Việt Nam, các Ngân hàng được phép phải ghi số lượng ngoại tệ đã bán và đóng dấu lên Giấy phép do Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cấp. Tổng số ngoại tệ mua tại các Ngân hàng phải nằm trong phạm vi số ngoại tệ được Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cho phép.