Điều 2. Về nhập khẩu và kinh doanh phân bón.
1. Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nhập khẩu và kinh doanh phân bón phải nhằm mục tiêu đưa việc nhập khẩu và kinh doanh phân bón vào nền nếp, nhằm cung ứng đủ và kịp thời phân bón trực tiếp đến hộ nông dân phục vụ sản xuất với giá cả hợp lý, gắn việc cung ứng vật tư, dịch dụ (trước hết là phân bón) với việc thu mua lúa hàng hoá của nông dân thành một hệ thống, bảo đảm sự quản lý và điều hành của Nhà nước.
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có trách nhiệm cân đối và đề nghị số lượng các loại phân bón cần nhập khẩu hàng năm phục vụ sản xuất nông nghiệp để Chính phủ quyết định.
- Bộ Công nghiệp sớm có quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển ngành sản xuất phân bón đến năm 2000 và 2010 theo hướng tăng nhanh sản xuất trong nước thay thế dần nhập khẩu với hình thức tự vay vốn hoặc liên doanh để sản xuất phân bón.
2. Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn điều hành việc nhập khẩu và kinh doanh phân bón theo hướng:
- Hàng năm, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có sử dụng lượng phân bón lớn phải lập kế hoạch nhu cầu phân bón từng vụ, cả năm và khả năng tự nhập khẩu của địa phương báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thương mại để cân đối và xác định hạn mức nhập khẩu cho các tỉnh và một số doanh nghiệp Trung ương được giao nhiệm vụ nhập phân bón.
- Trên cơ sở đề nghị của Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách và hạn mức nhập khẩu phân bón hàng năm cho các tỉnh và một số doanh nghiệp trung ương. Hạn mức nhập khẩu phân bón được giao một lần ngay từ đầu năm để chủ động việc giao dịch và ký hợp đồng nhập khẩu bảo đảm đủ phân bón và đúng thời vụ sản xuất.
- Dưới sự chỉ đạo của Thường vụ tỉnh uỷ, căn cứ vào hạn mức nhập khẩu được giao, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chọn và giao hạn mức nhập khẩu cho doanh nghiệp của tỉnh có đủ điều kiện để giao nhiệm vụ nhập phân bón và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc lựa chọn doanh nghiệp và chỉ đạo việc nhập khẩu đủ số lượng phân bón đã giao cho tỉnh. Trường hợp có khó khăn, Uỷ ban nhân dân tỉnh phải báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thương mại để có biện pháp xử lý kịp thời đảm bảo đủ phân bón cho nhu cầu sản xuất của địa phương.
- Các doanh nghiệp được giao nhập khẩu phân bón không được mua bán, chuyển nhượng hạn ngạch (quota) nhập phân bón dưới bất kỳ hình thức nào. Trường hợp các doanh nghiệp không có khả năng thực hiện hạn ngạch nhập khẩu phân bón được giao, phải báo cáo kịp thời cho Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để báo cáo Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cho các đơn vị khác thực hiện.
- Các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ nhập khẩu phân bón không được bán trao tay phân bón tại mạn tàu, tại cảng cho các tổ chức khác mà phải tổ chức hệ thống đại lý bán hàng có đăng ký tại các tỉnh hoặc qua hệ thống đại lý do Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức và chịu trách nhiệm. Các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện được cơ quan có thẩm quyền ở địa phương xem xét cho phép đăng ký làm đại lý bán phân bón phải bảo đảm an toàn vốn cho các doanh nghiệp, giá bán phải được quản lý thống nhất và hợp lý nhằm phục vụ đủ và kịp thời vụ sản xuất.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì cùng các Bộ có liên quan xây dựng cơ chế phù hợp nhằm gắn việc kinh doanh lúa gạo với việc cung ứng phân bón và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất nông nghiệp để sử dụng hợp lý nguồn vốn và kinh doanh có hiệu quả.
4. Để bảo đảm việc điều hành nhập khẩu phân bón đi vào nền nếp, các doanh nghiệp được giao nhập khẩu phân bón phải báo cáo định kỳ hàng tháng, hàng quý kết quả nhập khẩu và kinh doanh phân bón cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thương mại để theo dõi và tổng hợp.
Hàng tháng lãnh đạo hai Bộ Thương mại, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải cùng đánh giá kết quả nhập khẩu, kinh doanh phân bón và có các biện pháp chỉ đạo kịp thời các địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
5. Việc nhập phân bón vay trả chậm nước ngoài phải hướng vào những tập đoàn sản xuất phân bón lớn trên thế giới với giá cả hợp lý, thông qua các hợp đồng thương mại ổn định, lâu dài ở cấp Chính phủ sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép. Các doanh nghiệp nhập khẩu phải có phương án nhập khẩu phù hợp với thời vụ sản xuất và trả được nợ vay khi đến hạn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì cùng Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc quản lý, sử dụng tiền bán hàng vay trả chậm của các doanh nghiệp nhập khẩu để bảo đảm thanh toán với nước ngoài khi đến hạn. Chấm dứt ngay tình trạng các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón sử dụng tiền bán hàng vay trả chậm của nước ngoài để kinh doanh mục đích khác mà không phục vụ cho kinh doanh phân bón và lương thực.
Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hạn ngạch nhập khẩu phân bón, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các Ngân hàng Thương mại bảo lãnh cho các doanh nghiệp được chỉ định nhập khẩu phân bón vay trả chậm nước ngoài và được lấy giá trị hàng hoá phân bón nhập khẩu làm bảo đảm và ký quỹ với mức thấp nhất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Riêng đối với các doanh nghiệp được giao nhập khẩu số lượng phân bón lớn để điều hoà cung cầu, bình ổn giá trong cả nước, ngoài quy định chung, Ngân hàng cho vay và bảo lãnh theo số lượng phân bón nhập cụ thể của từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện được chỉ tiêu đã giao. Trường hợp có khó khăn về vốn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối trình Thủ tướng Chính phủ cho phép sử dụng từ nguồn quỹ dự trữ ngoại tệ tập trung của Nhà nước để cho vay nhập phân bón.
6. Bộ trưởng, Trưởng ban Ban tổ chức-Cán bộ Chính phủ chủ trì cùng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo việc giải thể Hội phân bón Việt Nam, thành lập Hiệp hội nhập khẩu phân bón Việt nam, bao gồm các doanh nghiệp nhập khẩu và kinh doanh phân bón nhằm giúp các doanh nghiệp thành viên nhập khẩu và kinh doanh phân bón có hiệu quả, bảo đảm giá nhập khẩu thống nhất và giá bán phân bón hợp lý cho nông dân.