Điều 2. Quy định thành lập bản đồ
Đối với bản đồ chuyên ngành quy định tại khoản 9 Điều 22, Điều 31 Luật Đo đạc và bản đồ và khoản 4 Điều 20 Luật Đất đai được thành lập để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý đất đai, hạ tầng kỹ thuật và các lĩnh vực khác hoặc theo nhu cầu của người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội cần bảo đảm các quy định sau:
- Về cơ sở toán học khi lập bản đồ: Việc thành lập bản đồ trên địa bàn thành phố Hà Nội phải sử dụng Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 và hệ độ cao quốc gia Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đối với bản đồ thành lập bằng phương pháp đo vẽ hiện chỉnh hoặc chỉnh lý: Được áp dụng ở các khu vực đã có bản đồ địa hình hoặc địa chính cùng tỷ lệ hoặc lớn hơn tỷ lệ bản đồ cần thành lập.
- Phạm vi đo vẽ cần rộng hơn so với ranh giới khu đất nghiên cứu tối thiểu 20 m để bảo đảm cho việc khớp nối hạ tầng kỹ thuật của dự án với khu vực
xung quanh dự án. Đối với các dự án nghiên cứu dạng tuyến (tuyến điện cao thế, đường giao thông, sông ngòi...) cần đo rộng hơn so với ranh giới nghiên cứu ít nhất là 30 m. Dáng đất được thể hiện trên bản đồ bằng điểm ghi chú độ cao thì mật độ phân bố đều không dưới 10 điểm/dm2 trên bản đồ.
Bản đồ phải thể hiện thông tin về chủ sử dụng đất hoặc chủ đầu tư, địa điểm, ranh giới thửa đất, mốc giới (có thông tin, dữ liệu kèm theo), loại đất; các chỉ giới về quy hoạch, chỉ giới xây dựng (nếu có); ranh giới sử dụng đất theo các giấy tờ sử dụng đất hợp pháp hoặc hồ sơ pháp lý có liên quan; thể hiện nội dung, ghi chú phù hợp với mục đích sử dụng bản đồ và hiện trạng.
- Ký hiệu và phân lớp được thể hiện theo quy định hiện hành. Các ký hiệu cho công trình ngầm chưa được quy định cụ thể cần ghi chú rõ trên bản đồ và phân lớp theo nhóm đối tượng có cùng tính chất, công dụng. Khi chia mảnh bản đồ thì chọn khổ giấy sao cho các góc khung có giá trị tọa độ chẵn và trong một dự án chỉ dùng một loại khổ giấy.