Điều 10. Thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức cấp xã
1. Cán bộ chuyên trách cấp xã nếu vi phạm các quy định của pháp luật thuộc các trường hợp nêu tại điều 2 Quy định này thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào các văn bản sau để xem xét xử lý kỷ luật:
1.1 Đối với các chức danh Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc
Uỷ ban nhân dân thì căn cứ vào Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân;
1.2 Đối với Bí thư, Phó Bí thư, Thường trực Đảng uỷ (Nơi không có Phó Bí thư chuyên trách công tác Đảng), Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ (Nơi chưa thành lập Đảng bộ cấp xã); người đứng đầu tổ chức chính trị cấp xã (Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh) thì căn cứ vào Điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Đồng thời với xử lý kỷ luật nêu tại điểm 1.1, 1.2 khoản 1 điều này thì sau khi đã thống nhất với cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định kỷ luật theo một trong các hình thức sau: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức hoặc buộc thôi việc.
2. Công chức cấp xã nếu vi phạm các quy định của pháp luật thuộc các trường hợp nêu tại điều 2 Quy định này mà bị kỷ luật với một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức hoặc buộc thôi việc thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định kỷ luật.