Điều 6. Tiêu chuẩn về đời sống kinh tế:
1. Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển với cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc, phù hợp với điều kiện và tình hình tại địa phương. Hoàn thành các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội do huyện, thị, thành phố giao. Người dân trong độ tuổi lao động có việc làm chính đáng, thu nhập bình quân đầu người hàng năm tăng và đạt cao hơn mức bình quân của tỉnh. Có chính sách đầu tư, khuyến khích để phát triển các tiềm năng kinh tế.
2. Có từ 95% trở lên số hộ gia đình (đối với miền xuôi ) 80% hộ gia đình ( đối với miền núi ) có nhà ở được xây dựng bền vững hoạc làm kiên cố, ( không còn nhà tranh tre, nưa lá). Nhân dân có đời sống kinh tế ổn định, phát triển, nhiều hộ giầu không còn hộ nghèo :
Hộ nghèo dưới 15 % ( đối với miền xuôi) tính theo chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai doạn 2006 – 2010.
Hộ nghèo dưới 20% ( đối với miền núi và các xã bãi ngang) tính theo chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai doạn 2006 – 2010.
- Hộ nghèo dưới 5% ( đối với khu vực thị xã, thành phố ) tính theo chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai doạn 2006 – 2010.
3.Thực hiện tốt phong trào đền ơn, đáp nghĩa; Chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách: Thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người cao tuổi, tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa, tạo điều kiện để họ có mức sống bằng các hộ trung bình trong xã, phường, thị trấn.
4. Đường giao thông xã, phường, thị trấn, đường làng, ngõ xóm, đường liên thôn, liên xóm sạch đẹp, thông thoáng:
- 100% được rải nhựa hoặc bê tông hoá (đối với miền xuôi).
- 80% đường làng, ngõ xóm, đường liên thôn, liên xóm sạch đẹp, thông thoáng, đi lại thuận tiện hoặc được rải cấp phối (đối với miền núi và các xã bãi ngang).
5. 100% số hộ được dùng điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất (đối với miền xuôi).
- 75% số hộ có điện dùng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất (đối với miền núi và các xã bãi ngang).