vanban.org

Điều 5. Chế độ phối hợp điều tra, xử lý các vụ, việc cụ thể : — Quyết định 133/2002/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2022 Thay thế: 105/2021/NĐ-CP · 04/12/2021
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 09/10/2002 Hiệu lực 24/10/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 23 năm
Quyết định số 133/2002/QĐ-TTg Ban hành Quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma tuý tại địa bàn biên giới, cửa khẩu và trên biển · 133/2002/QĐ-TTg
01/01/2022105/2021/NĐ-CPSửa đổi Đang xem 24/10/2002Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 133/2002/QĐ-TTg › Chương 2 › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Chế độ phối hợp điều tra, xử lý các vụ, việc cụ thể :

1. Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan các cấp điều tra, xử lý những hành vi phạm tội về ma tuý được quy định tại Chương XVIII Bộ Luật Hình sự năm 1999, trong địa bàn quản lý của mình theo đúng thẩm quyền được quy định trong Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, Pháp lệnh Cảnh sát biển và Luật Hải quan. Trong quá trình điều tra, nếu có yêu cầu thì Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan được gửi người bị tạm giữ ở nhà tạm giữ hoặc trại tạm giam của lực lượng công an.

2. Lực lượng công an các cấp khi nhận được yêu cầu của Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan cùng cấp về việc truy bắt đối tượng, phương tiện phạm pháp từ biên giới, cửa khẩu hoặc trên biển chạy vào nội địa có trách nhiệm triển khai lực lượng phối hợp truy tìm, bắt giữ, sau đó bàn giao lại cho Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan hoặc tiếp nhận hồ sơ, để tiếp tục điều tra, xử lý. Đối với các chuyên án ma tuý lớn do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan phát hiện, xác lập đấu tranh có đối tượng liên quan đến địa bàn nội địa cần làm rõ thì chuyển giao cho lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma tuý và cơ quan cảnh sát điều tra cùng cấp tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật (trừ các vụ án ma tuý thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra quân đội). Đối với các chuyên án, vụ án do lực lượng công an xác lập đấu tranh, có đối tượng liên quan đến địa bàn của lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan thì lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan phối hợp, tạo điều kiện theo yêu cầu.

3. Đối với những vụ án ma tuý phức tạp, đối tượng có liên quan đến nhiều địa phương và nước ngoài cần phải thành lập Ban chuyên án bao gồm Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển thì lực lượng công an chủ trì. Trong trường hợp các chuyên án do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan phát hiện thì điều tra theo quy định của pháp luật hiện hành. Khi có yêu cầu thì lực lượng công an có trách nhiệm hỗ trợ và phối hợp.

4. Trường hợp lực lượng công an có yêu cầu hoạt động nghiệp vụ, điều tra, trinh sát xác minh về tội phạm ma tuý ở khu vực biên giới, cửa khẩu và trên biển thì lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan có trách nhiệm phối hợp tạo điều kiện giúp đỡ lực lượng công an hoàn thành nhiệm vụ. Lực lượng Công an có trách nhiệm hỗ trợ lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan khi các lực lượng này có yêu cầu phối hợp trong địa bàn nội địa.

5. Sau khi hoàn thành điều tra, xử lý, các bên thông báo kết quả phối hợp và rút kinh nghiệm.