Điều 5. Về kinh phí thực hiện.
1.Ngân sách trung ương hỗ trợ:
Khai hoang bình quân 4,0 triệu đồng/ha; đối với hộ đồng bào tự tổ chức khai hoangtheo quy hoạch thì cũng được hỗ trợ theo mức này; Tiền đền bù công khai hoang,hoa lợi (nếu có) khi thu hồi đất của các hộ gia đình, không quá 4,0 triệu đồng/ha.
2.Đối với giá trị vườn cây phải thu hồi:
a) Trường hợp vườn cây của doanh nghiệp nhà nước:
Nếu do vốn ngân sách đầu tư cho doanh nghiệp nhà nước thì ghi giảm vốn cho doanh nghiệp tương ứng với giá trị thực tế vườn cây sau khi được đánh giá lại và ghi nợ cho người dân được giao vườn cây;
Nếu do doanh nghiệp vay vốn tín dụng để đầu tư thì được khoanh nợ, ngân sách nhà nướchỗ trợ lãi suất cho tổ chức tín dụng.
b) Đối với vườn cây thu hồi của các doanh nghiệp dân doanh và của cá nhân do doanh nghiệp và cá nhân tự đầu tư thì sử dụng ngân sách địa phương để xử lý.
3. Những hộ được giao đất có vườn cây lâu năm thì ghi nợ (không tính lãi suất) giá trị vườn cây tại thời điểm được giao. Thời gian trả nợ phù hợp với chu kỳ kinhtế và thời gian kinh doanh còn lại của vườn cây, nhưng tối đa là 10 năm. Đối với hộ trả nợ trước thời hạn quy định được giảm giá, mức giảm cụ thể do Bộ Tài chính quy định.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên chỉ đạo việc thu hồi nợ vườn cây củacác hộ được giao đất có gắn với vườn cây ở từng địa phương.
Nguồn nợ thu được, trước hết để trả vốn cho chủ vườn cây, số còn lại để đầu tư hạ tầng cơ sở giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch ở địa phương.
4. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào phương án cụ thể của từng tỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt có trách nhiệmbố trí đủ vốn trong 2 năm (2002 và 2003) để thực hiện.
Năm 2002 tạm ứng trước nguồn vốn ngân sách trung ương, phần còn lại bố trí trong dự toán ngân sách năm 2003.