Điều 12. Xử lý học viên vi phạm hợp đồng
1. Học viên bị buộc ra khỏi chương trình đào tạo và bồi thường gấp 03 (ba) lần kinh phí đã nhận kể từ khi tham gia chương trình đào tạo nếu vi phạm một trong các trường hợp sau:
a) Tự ý bỏ học;
b) Không trình diện và báo cáo kết quả học tập theo đúng quy định;
c) Chậm thông báo cho Trung tâm quá 3 tháng hoặc khai báo không trung thực các nội dung theo quy định;
d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng.
e) Làm việc không đủ thời gian theo hợp đồng.
2. Học viên hoàn trả 100% kinh phí đã nhận nếu xin rút khỏi chương trình đào tạo với lý do chính đáng và được Ủy ban nhân dân tỉnh đồng ý.
3. Học viên bị buộc chấm dứt chương trình đang học và hoàn trả 100% kinh phí đã nhận trong các trường hợp sau: kết quả khóa học dự bị không đủ điều kiện vào học chương trình đào tạo chính thức; bị lưu ban; có 3 (ba) học kỳ liên tiếp không đạt kết quả học tập từ loại khá trở lên hoặc 2 (hai) kỳ liên tiếp có kết quả dưới trung bình; kết quả cuối khóa không đạt từ loại khá trở lên.
4. Học viên không thực hiện đủ thời gian làm việc theo hợp đồng mà tự ý bỏ việc thì chi phí bồi hoàn được tính theo công thức sau:
S = (F / T1) x (T1 - T2) x 3 lần
Trong đó:
- S là chi phí bồi hoàn;
- F là chi phí đào tạo được cấp;
- T1 là thời gian làm việc theo sự điều động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (tính bằng số tháng làm tròn);
- T2 là thời gian đã làm việc sau khi được điều động (tính bằng số tháng làm tròn).
6. Việc hoàn trả và thu hồi kinh phí vi phạm hợp đồng
a) Sau 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định xử lý của Trung tâm, học viên vi phạm hợp đồng phải nộp đầy đủ kinh phí bồi thường vào ngân sách tỉnh. Riêng các trường hợp vi phạm phải đền bù gấp 3 lần kinh phí đã nhận thì sau 120 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định xử lý của Trung tâm, học viên phải nộp đầy đủ kinh phí bồi thường vào ngân sách tỉnh.
b) Sau thời hạn nêu trên, nếu học viên hoặc gia đình học viên không chấp hành việc hoàn trả hoặc bồi thường theo quy định, Trung tâm có quyền khởi kiện theo quy định và lập thủ tục đề nghị cơ quan pháp luật xử lý.
c) Trường hợp học viên không có khả năng hoàn trả hoặc bồi thường kinh phí vi phạm hợp đồng thì gia đình học viên có trách nhiệm cùng học viên bồi hoàn kinh phí theo quy định.
d) Trường hợp học viên hoặc gia đình học viên chậm thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn theo thời hạn thì phải chịu lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi kỳ hạn 12 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định đối với khoản tiền chậm bồi hoàn. Nếu Ngân hàng Nhà nước không quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi kỳ hạn 12 tháng thì học viên hoặc gia đình học viên phải chịu lãi suất áp dụng đối với tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn.