vanban.org

Điều 5. Quyền và trách nhiệm của Người phát ngôn — Quyết định 13/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/01/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 05/01/2014 Thay thế: 40/2013/QĐ-UBND · 26/12/2013
Đắk Lắk Ban hành 09/04/2009 Hiệu lực 19/04/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 40/2013/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk · 40/2013/QĐ-UBND
Quyết định số 13/2009/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí · 13/2009/QĐ-UBND
05/01/201440/2013/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 19/04/2009Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 13/2009/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Quyền và trách nhiệm của Người phát ngôn

1. Người phát ngôn được nhân danh, đại diện đơn vị phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Chỉ những thông tin do Người phát ngôn cung cấp mới được coi là thông tin chính thống của đơn vị.

Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đăng, phát, phản ánh đầy đủ trung thực nội dung phát ngôn và thông tin do Người phát ngôn cung cấp, đồng thời phải ghi rõ họ tên Người phát ngôn, tên đơn vị của Người phát ngôn.

2. Người phát ngôn có quyền yêu cầu các cá nhân có liên quan trong cơ quan mình, các đơn vị trực thuộc cung cấp thông tin, tập hợp thông tin để phát ngôn, cung cấp thông tin định kỳ, đột xuất cho báo chí theo quy định tại Điều 3, Điều 4 của Quy chế này; để trả lời các phản ánh, kiến nghị, phê bình, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân do cơ quan báo chí chuyển đến hoặc đăng, phát trên báo chí theo quy định của pháp luật.

3. Người phát ngôn có quyền từ chối, không phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trong các trường hợp sau:

a) Những vấn đề bí mật thuộc nguyên tắc và quy định của Đảng; những vấn đề thuộc bí mật nhà nước; những vấn đề không thuộc quyền hạn phát ngôn (như những vấn đề không thuộc quyền quản lý của cơ quan mình, người phát ngôn không được Thủ trưởng cơ quan ủy quyền phát ngôn về lĩnh vực đó...)

b) Các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử, trừ trường hợp các đơn vị, cơ quan điều tra có yêu cầu cần thông tin trên báo chí những vấn đề có lợi cho hoạt động điều tra và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

c) Những văn bản chính sách, đề án đang trong quá trình soạn thảo mà theo quy định của pháp luật chưa được cấp có thẩm quyền cho phép phổ biến, lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội.

d) Những thông tin, tài liệu về nội dung thanh tra trong quá trình thanh tra khi chưa có kết luận chính thức.

4. Người phát ngôn chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí.

Trong trường hợp Người phát ngôn không phải là người đứng đầu đơn vị thì còn phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị về tính chính xác, tính trung thực của nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí.