Điều 8. Về việc thành lập thôn mới (bao gồm cả việc chia tách, sáp nhập thôn):
1. Giữ nguyên các thôn hiện có. Chỉ thành lập thôn mới khi tổ chức định canh, định cư, di dân giải phóng mặt bằng và khi thực hiện quy hoạch dãn dân được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Quy mô thôn mới: ở vùng đồng bằng miền Bắc phải có từ 150 hộ trở lên; ở vùng đồng bằng miền Trung và miền Nam phải có từ 100 hộ trở lên; miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa phải có từ 50 hộ trở lên.
3. Quy trình và hồ sơ thành lập thôn mới:
a. Sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyết định về chủ trương, Uỷ ban nhân dân xã xây dựng phương án thành lập thôn mới, nội dung chủ yếu gồm:
+ Sự cần thiết phải thành lập thôn mới.
+ Tên thôn.
+ Vị trí địa lý của thôn.
+ Dân số (số hộ, số nhân khẩu).
+ Diện tích thôn (đơn vị tính là ha).
+ Kiến nghị.
b. Lấy ý kiến cử tri trong khu vực thành lập thôn mới về phương án, tổng hợp thành văn bản nêu rõ tổng số cử tri, số cử tri đồng ý, không đồng ý.
c. Nếu đa số cử tri đồng ý, Uỷ ban nhân dân xã hoàn chỉnh phương án, trình Hội đồng nhân dân xã thông qua (có nghị quyết của Hội đồng nhân dân).
d. Sau khi có nghị quyết Hội đồng nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã hoàn chỉnh hồ sơ trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thẩm định phương án, hồ sơ trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Hồ sơ trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gồm:
+ Tờ trình của Uỷ ban nhân dân xã trình Hội đồng nhân dân xã.
+ Phương án thành lập thôn mới.
+ Biên bản lấy ý kiến cử tri.
+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã.
+ Tờ trình của Uỷ ban nhân dân xã trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
+ Tờ trình của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
e. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét ra quyết định thành lập thôn mới.