Điều 6. Khi thi hành nhiệm vụ, Đội có quyền:
1- Yêu cầu tổ chức và cá nhân bị kiểm tra báo cáo và xuất trình các giấy tờ cần thiết liên quan đến nội dung kiểm tra.
2- Kiểm tra sổ sách, chứng từ, hợp đồng kinh tế và các giấy tờ khác liên quan đến nội dung kiểm tra.
3- Kiểm tra nơi sản xuất, nơi cất giấu, nơi chứa chấp hàng hoá và phương tiện kinh doanh phạm pháp.
4- Yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính phù hợp theo quy định của pháp luật để tạo điều kiện cho Đội thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý vụ vi phạm theo chức trách của Đội.
5- Đối với vụ vi phạm, Đội được quyền:
a) Lập biên bản về vụ vi phạm.
b) Đình chỉ hành vi vi phạm.
c) Tạm giữ các giấy tờ có liên quan đến vụ vi phạm.
d) Tạm giữ tang vật là hàng hoá, phương tiện, tiền bạc vi phạm chờ xử lý.
đ) Tiến hành thẩm tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để hoàn chỉnh hồ sơ vụ việc.
e) Quyết định truy thu thuế nếu phát hiện đương sự trốn, hay lậu thuế để cơ quan thuế trực tiếp thu nộp ngân sách.
g) Quyết định xử phạt với các hình thức và biện pháp hành chính quy định trong Chương II Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30-11-1989.
Đối với vi phạm phải phạt tiền trên 2.000.000 đồng hoặc tịch thu tang vật vi phạm hoặc tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh thì Đội phải báo cáo xin ý kiến Ban trước khi ra quyết định xử lý.
Đối với các vụ việc không thuộc thẩm quyền xử lý của Đội hoặc phải truy tố về hình sự, thì Đội báo cáo với Ban kèm theo kiến nghị xử lý.