Điều 7. -
1. Ngân hàng đầu tư và xây dựng chỉ bố trí vào kế hoạch vốn để cấp tạm ứng hoặc cho vay để tiến hành chuẩn bị đầu tư đối với những công trình có đủ điều kiện sau:
a) Có quyết định chuẩn bị đầu tư và được ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư của Nhà nước hàng năm.
b) Được cơ quan tài chính Nhà nước chuyển vốn để Ngân hàng đầu tư và xây dựng cho vay hoặc cấp tạm ứng; hoặc có vốn tự có của chủ đầu tư.
2. Các Bộ (đối với công trình thuộc trung ương quản lý) các cơ sở chủ quản (đối với công trình địa phương quản lý) phải gửi đến Ngân hàng đầu tư và xây dựng trung ương, các chi nhánh ngân hàng đầu tư và xây dựng tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương các tài liệu sau:
a) Quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép tiến hành chuẩn bị đầu tư.
b) Tổng dự toán toàn bộ công việc chuẩn bị đầu tư và tiến độ chuẩn bị đầu tư có chia ra từng năm do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
c) Kế hoạch chuẩn bị đầu tư trong năm kế hoạch và kế hoạch tài chính chuẩn bị đầu tư của từng công trình.
d) Công trình chuẩn bị đầu tư hợp tác với nước ngoài phải có thêm đầu dự án đầu tư, các văn bản ký kết với nước ngoài liên quan đến chuẩn bị đầu tư.
3. Căn cứ các tài liệu trên, Ngân hàng đầu tư và xây dựng trung ương hoặc chi nhánh ngân hàng đầu tư và xây dựng tỉnh, thành phố, đặc khu theo sự phân cấp, tiến hành:
a) Xác định và thông báo cho các chi nhánh ngân hàng đầu tư và xây dựng cơ sở về:
- Tổng mức vốn cho vay hoặc cấp tạm ứng để chuẩn bị đầu tư đối với từng công trình.
- Thời hạn cho vay hoặc cấp tạm ứng để chuẩn bị đầu tư đối với mỗi công trình.
b) Tiếp chuyển thông báo cho các chi nhánh ngân hàng đầu tư và xây dựng cơ sở kế hoạch chuẩn bị đầu tư hàng năm của từng công trình.
c) Thông báo cho các chi nhánh ngân hàng đầu tư và xây dựng cơ sở kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư hàng năm.