Điều 26. Thẩm quyền đề nghị xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng
Thẩm quyền đề nghị xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được thực hiện theo quy định tại Điều 83 Luật Thi đua, khen thưởng; Điều 29 Nghị định số 98/2023/NĐ-CP và khoản 1, khoản 2 Điều 6 Thông tư số 1/2024/TT-BNV.
1. Tập thể, cá nhân làm công tác chuyên trách thuộc các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng; cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng.
2. Việc khen thưởng tổ chức, cá nhân thuộc các tổ chức tôn giáo do Sở Nội vụ xem xét trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng và đề nghị khen thưởng sau khi lấy ý kiến các cơ quan có liên quan về tôn giáo.
3. Đối với các đơn vị thuộc ngành dọc của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh do bộ, ngành Trung ương quản lý về tổ chức, biên chế thì do cơ quan cấp trên của các đơn vị đó xét công nhận danh hiệu thi đua và đề nghị khen thưởng; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ khen thưởng đột xuất, khen thưởng thành tích tham gia phong trào thi đua do tỉnh phát động và khen thưởng cho tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh.
4. Tập thể, cá nhân ngoài tỉnh có nhiều đóng góp cho sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương thì Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định khen thưởng hoặc trình khen thưởng (Trường hợp có thành tích xuất sắc hoặc đóng góp lớn cho các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, Thủ trưởng các đơn vị, địa phương đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét khen thưởng).
5. Trường hợp khen thưởng đột xuất, gương người tốt, việc tốt, hành động dũng cảm, cứu nạn, cứu hộ, chống tham nhũng trong phạm vi địa phương, đơn vị nào thì địa phương, đơn vị đó có trách nhiệm khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng.