Điều 6. Công trình xây dựng và các biện pháp đảm bảo yêu cầu phòng, chống thiên tai
1. Việc đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai và công trình kết hợp phòng, chống thiên tai phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 19, Điều 20 Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 12 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều năm 2020).
2. Các cấp, các ngành triển khai kế hoạch phân kỳ đầu tư, nâng cấp đảm bảo khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng, công trình phòng, chống thiên tai, nhất là hệ thống cống kiểm soát triều, kè chống sạt lở, đê bao, bờ bao, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền để đảm bảo an toàn trước thiên tai theo tiêu chuẩn thiết kế, không làm gia tăng nguy cơ rủi ro thiên tai.
3. Các sở, ban, ngành, đơn vị Thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức và các quận - huyện tổ chức quản lý, khai thác, vận hành, sử dụng các công trình phòng, chống thiên tai theo phân cấp. Trong phạm vi quản lý của mình, các cấp, các ngành phải thường xuyên kiểm tra, rà soát, đánh giá chất lượng, mức độ an toàn của công trình nhằm kịp thời phát hiện sự cố, hư hỏng, khiếm khuyết để có biện pháp sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp đảm bảo an toàn. Các đơn vị, địa phương phải chủ động kế hoạch đầu tư kiên cố hóa, trường hợp vượt quá khả năng của địa phương, đơn vị mình thì báo cáo đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố đầu tư xây dựng mới công trình phòng, chống thiên tai, lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và kế hoạch 05 năm của Thành phố.
4. Chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng các khu đô thị, khu du lịch, khu công nghiệp, khu di tích lịch sử, công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực, viễn thông và hạ tầng kỹ thuật khác phải thực hiện nội dung bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quy chuẩn kỹ thuật, quy định do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định tại khoản 11 (Điều 18a) và khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều năm 2020.
5. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang khu đô thị, khu du lịch, khu công nghiệp, khu di tích lịch sử, công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực, viễn thông và hạ tầng kỹ thuật khác theo quy định tại Thông tư 13/2021/TT-BNNPTNT ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Việc xây dựng mới nhà ở, công trình tại các khu vực ven sông, ven biển, vùng thường xuyên bị ngập lụt, vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng trực tiếp bão, áp thấp nhiệt đới phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch và đảm bảo tiêu chuẩn về phòng, chống thiên tai, cốt nền, hành lang, chỉ giới an toàn bờ sông, kênh, rạch. Đối với các công trình, nhà cao tầng cần tính toán yếu tố phòng, chống động đất.
6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình có trách nhiệm thực hiện các tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai do cơ quan có thẩm quyền ban hành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã kiểm tra việc thực hiện các tiêu chí bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định.
7. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã có biện pháp ngăn ngừa, xử lý việc xây dựng lấn chiếm vi phạm mốc hành lang bảo vệ an toàn bờ sông, kênh, rạch theo đúng quy định để đảm bảo an toàn về tính mạng, tài sản của Nhân dân và không làm ảnh hưởng đến dòng chảy tiêu thoát nước.
8. Đối với những công trình, nhà ở hiện có nằm trong chỉ giới, hành lang bảo vệ an toàn bờ sông, kênh, rạch, vùng có nguy cơ sạt lở cao, không an toàn khi xảy ra thiên tai, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức và các quận - huyện lập quy hoạch giải tỏa và xây dựng kế hoạch hàng năm để chủ động di dời dân khỏi khu vực xung yếu đến nơi định cư an toàn. Trong trường hợp cụ thể, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức và các quận - huyện thực hiện chính sách bồi thường hoặc hỗ trợ di dời theo quy định của pháp luật.