Điều 1. Chức danh kiêm nhiệm đối với những người hoạt động không chuyên trách
1. Người hoạt động không chuyên trách ngoài chức danh phụ trách chính chỉ được kiêm nhiệm thêm tối đa 2 chức danh khác (tổng không quá 3 chức danh). Khi ban hành Quyết định bố trí chức danh, xếp tên các chức danh có hệ số phụ cấp cao hơn làm chức danh phụ trách chính, đảm bảo sau khi kiêm nhiệm, người hoạt động không chuyên trách được hưởng các mức phụ cấp theo quy định.
2. Các chức danh kiêm nhiệm
a) Đối với cấp xã:
- Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra và phụ trách công tác nội chính kiêm Phụ trách công tác Tuyên giáo, Dân vận;
- Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc kiêm Trưởng ban thanh tra nhân dân;
- Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ kiêm Phụ trách công tác xã hội và Dân số, kế hoạch hóa gia đình;
- Phụ trách Dân tộc và Tôn giáo kiêm Phụ trách thông tin liên lạc và đài truyền thanh;
- Nhân viên thú y kiêm Phụ trách Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thủy lợi và bảo vệ thực vật;
- Phó Chủ tịch Hội nông dân kiêm Chủ tịch Hội chữ thập đỏ;
- Đối với các chức danh còn lại do cấp ủy, chính quyền cấp xã quyết định bố trí.
b) Đối với thôn, tổ dân phố:
Tùy điều kiện thực tế, Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ đạo các thôn, tổ dân phố bố trí kiêm nhiệm các chức danh hoạt động không chuyên trách theo số lượng được quy định tại Nghị quyết 27/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh; trong đó phải đảm bảo các chức sau đây là chức danh cứng để kiêm nhiệm các chức danh khác:
- Bí thư chi bộ;
- Trưởng Thôn, Tổ trưởng Dân phố;
- Chi Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ;
- Thôn đội trưởng, Tổ đội trưởng;
- Công an viên.
3. Người hoạt động không chuyên trách cấp xã kiêm chức danh không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nếu cư trú tại thôn, tổ dân phố đó (chỉ thực hiện trong trường hợp do khó khăn trong công tác cán bộ); phụ cấp kiêm nhiệm được áp dụng theo phụ cấp kiêm nhiệm đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.