vanban.org

Điều 7. Phối hợp trong việc kiểm tra tính pháp lý, cơ cấu của hồ sơ. — Quyết định 12/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/06/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/06/2022 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 21/2022/QĐ-UBND · 03/06/2022
Quảng Ngãi Ban hành 11/04/2018 Hiệu lực 22/04/2018 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 8 năm
Quyết định số 12/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp trong việc lập hồ sơ và tổ chức cai nghiện ma túy đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 12/2018/QĐ-UBND
15/06/202221/2022/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 22/04/2018Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2018/QĐ-UBND › Chương I › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Phối hợp trong việc kiểm tra tính pháp lý, cơ cấu của hồ sơ.

1. Trách nhiệm của Sở Tư pháp

a) Phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác tập huấn, nâng cao nghiệp vụ về kiểm tra tính pháp lý trong quá trình lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân các huyện, thành phố xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

b) Hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, thành phố kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo theo quy định tại Khoản 2, Điều 12, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Trách nhiệm của UBND cấp huyện

a) Chỉ đạo cơ quan lập hồ sơ đẩy nhanh quá trình thu thập tài liệu, hoàn thiện đầy đủ hồ sơ, đảm bảo tính pháp lý của hồ sơ. Hết thời hạn đọc hồ sơ theo quy định, cơ quan lập hồ sơ gửi hồ sơ về Phòng Tư pháp để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ được thực hiện theo Khoản 4, Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

b) Chỉ đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội rút ngắn thời gian đối chiếu hồ sơ theo quy định với nội dung văn bản kiểm tra tính pháp lý của Trưởng Phòng Tư pháp cấp huyện, cụ thể như sau:

- Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội rút ngắn thời gian xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 07 ngày (theo quy định tại Điều 13, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) xuống còn 05 ngày. Cụ thể:

+ Trong thời hạn 02 ngày làm việc đối với trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục và lập thành 02 bản, bản gốc chuyển cho Tòa án nhân dân cấp huyện, bản sao lưu tại Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật.

+ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ bổ sung, trong đó nêu rõ lý do và các tài liệu cần bổ sung vào hồ sơ. Trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung các tài liệu theo yêu cầu. Sau thời hạn trên, nếu hồ sơ không được bổ sung, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội trả lại hồ sơ cho cơ quan lập hồ sơ, đồng thời báo cáo bằng văn bản cho Trưởng Phòng Tư pháp và người bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

c) Chỉ đạo Phòng Tư pháp kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo theo quy định tại Khoản 2, Điều 12, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; thời gian kiểm tra tính pháp lý hồ sơ rút ngắn từ 05 ngày xuống còn 04 ngày.