Điều 11 .
1.Chương trình thi là chương trình tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.Học sinh học chương trình nào thi theo chương trình đó, trọng tâm là chươngtrình lớp cuối bậc tiểu học.
2.Môn thi: Tiếng Việt và Toán.
Thờigian làm bài (không kể thời gian chép đề) cho mỗi môn thi là 90 phút.
3.Ngày thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn định hằng năm và được quy định trong biênchế năm học.
4.Hội đồng ra đề thi
SởGiáo dục - Đào tạo đề nghị UBND tỉnh (thành phố) ra quyết định thành lập Hộiđồng ra đề thi. Thành phần Hội đồng ra đề thi bao gồm:
Chủtịch Hội đồng: Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo
PhóChủ tịch Hội đồng: Trưởng Phòng Tiểu học
Thưkí Hội đồng: Cán bộ Phòng Tiểu học
CácUỷ viên: mỗi môn một hoặc hai cán bộ chuyên môn của Phòng Tiểu học có năng lựcchuyên môn giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao.
Cánbộ in ấn đề.
Hộiđồng ra đề thi có nhiệm vụ ra đề thi (chính thức và dự bị) và làm hướng dẫnchấm; tổ chức in ấn, đóng gói, niêm phong, bảo quản, phân phối đề thi.
Chủtịch Hội đồng chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo toàn bộ công tác làm đề thi,xét duyệt, quyết định chọn các bộ đề thi.
Cácuỷ viên chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch Hội đồng về tính chính xác,tính khoa học, tính sư phạm và tính bí mật của đề thi.
Cácthành viên trong Hội đồng ra đề thi là những người không có con, em ruột, cháuruột (con của anh em ruột, con của con trai, con gái) dự kì thi năm đó.
5.Ra đề thi
Đềthi ra cho từng loại chương trình thực hiện trong phạm vi địa phương. Đề thiphải phù hợp với thực tế, phù hợp với yêu cầu trung bình của chương trình, đảmbảo yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng của môn học.
Việclàm đề thi phải đảm bảo tuyệt đối bí mật, chính xác, nghiêm túc, an toàn trongmọi khâu (chuẩn bị ra đề, in ấn, bảo quản, phân phối, vận chuyển...). Đề thi đượcin riêng, không cùng tờ giấy thi của học sinh.
Nộidung của hướng dẫn chấm phải rõ ràng, cụ thể từng mức độ; biểu điểm đánh giáđúng trình độ học lực của học sinh. Điểm toàn bài được làm tròn đến 0,5 điểm.
6.In ấn đề thi và hướng dẫn chấm
Đềthi và hướng dẫn chấm sau khi được Chủ tịch Hội đồng ra đề thi kí duyệt, phải đượcin thử. Sau khi đọc, soát kĩ bản in thử 3 lần thì tiến hành in chính thức vàchỉ in đủ số lượng quy định. Việc in ấn phải làm xong từng đề. Các bản có liênquan đến đề thi như giấy nến, tờ in hỏng, tờ in thừa,... phải được niêm phongbảo quản trong hòm, tủ, không được đốt huỷ.
7.Vào bì và niêm phong đề thi
Đềthi từng môn, hướng dẫn chấm từng môn phải được vào bì và niêm phong riêng theoquy định của Hội đồng ra đề thi sao cho đảm bảo được nguyên tắc an toàn và bímật.
8.Phân phối, giao nhận đề thi
SởGiáo dục - Đào tạo sử dụng phương tiện riêng có công an bảo vệ đưa đề thi chínhthức và đề thi dự bị tới từng Phòng Giáo dục - Đào tạo. Các Hội đồng coi thinhận đề thi chính thức tại Phòng Giáo dục - Đào tạo. Phòng Giáo dục - Đào tạocó thể sử dụng phương tiện riêng có công an bảo vệ để đưa đề thi tới những Hộiđồng coi thi xa, đi lại khó khăn. Khi giao nhận đề thi và hướng dẫn chấm thi,phải lập biên bản, ghi rõ thời gian, địa điểm, hiện trạng các bì và có chữ kícủa cả hai bên.
SởGiáo dục - Đào tạo và Phòng Giáo dục - Đào tạo cần bố trí thời gian chuyển đềthi sao cho bì đề thi phải về tới các Hội đồng coi thi chậm nhất là một ngày trướcngày thi.
9.Việc thi đề dự bị do Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo quyết định. Hội đồng coithi sẽ nhận đề thi dự bị do Phòng Giáo dục - Đào tạo giao.
SởGiáo dục - Đào tạo tổ chức tập huấn về hướng dẫn chấm thi cho Chủ tịch và cáctổ trưởng bộ môn của Hội đồng chấm thi và giao bì hướng dẫn chấm cho các Hộiđồng chấm thi sau khi thi xong.
SởGiáo dục - Đào tạo và Phòng Giáo dục - Đào tạo phải có đề thi chính thức, đềthi dự bị để trực thi. Các đề trực thi được mở cùng lúc với giờ mở đề tại cácHội đồng coi thi.