Điều 2. - Tiền nuôi rừng được phân phối như sau:
1. Đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh lâm nghiệp trực thuộc Trung ương và địa phương:
- Để lại cho đơn vị 60% tổng số thu để đầu tư xây dựng lại vốn rừng.
- Nộp ngân sách trung ương 20%.
- Nộp ngân sách địa phương 20% (đơn vị thuộc cấp nào thì nộp cho cấp đó).
2. Đối với các đơn vị tập thể, hộ gia đình và tư nhân, cá thể được Nhà nước giao đất giao rừng để trồng rừng và chăm sóc, nuôi dưỡng khi khai thác gỗ và lâm sản được phân phối sử dụng tiền nuôi rừng như sau:
- Nhận đất trống để trồng rừng được để lại 80% tiền nuôi rừng để đầu tư trồng rừng chu kỳ sau.
- Nhận rừng tự nhiên để chăm sóc, nuôi dưỡng được để lại 60% để tu bổ lại rừng đã khai thác.
- Số 20% và 40% còn lại nộp ngân sách huyện để huyện đầu tư các khâu dịch vụ sản xuất cho tập thể, gia đình và tư nhân, cá thể v.v...
3. Tiền nuôi rừng do lực lượng kiểm lâm nhân dân thu được:
- Nộp ngân sách trung ương 50%
- Nộp ngân sách tỉnh 30%.
- Nộp ngân sách huyện, xã 20% (tỷ lệ dành cho ngân sách xã do Liên Bộ Lâm nghiệp - Tài chính hướng dẫn).